vanban.org

Quyết định 64/QĐ-TA

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/02/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân thành phố B thành lập đối với NPT.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là Cơ sở Cai nghiện ma túy Đức Hạnh tiếp nhận ban đầu để điều trị cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý, chăm sóc, phục hồi sức khỏe cho người nghiện ma túy trước khi thi hành quyết định của Tòa án đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "NPT"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân thành phố B thành lập đối với NPT.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ B
Số: 64/QĐ - TA
V, ngày 02 tháng 02 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN V – TP. B

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc

2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Văn Dũng

Ngày 02 tháng 02 năm 2018, tại Cơ sở Xã hội Thanh Thiếu niên 2, Tòa án nhân dân V- TP. B tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 53/QĐ - TA ngày 26 tháng 01 năm 2018, đối với:

Họ và tên: NPT (tên gọi khác: CH), Giới tính: Nam.

Sinh ngày 05 tháng 05 năm 1995

Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không, Nguyên quán: CM

Trình độ văn hóa: 00/12

Nghề nghiệp: Phụ hồ (không ổn định)

Nơi đăng ký thường trú: LT, PL, TVT, tỉnh CM.

Tạm trú: 81/9 Tổ 3, phường PM, Quận E - TP. B.

Tình trạng cư trú: Không nơi ở nhất định

Con ông NVT và bà NTN

Tiền án: Không

Tiền sự: Không

Có mặt tại phiên họp

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Bùi Anh Tuấn - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội V

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân V: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 11/12/2017, trên đường tuần tra địa bàn tới nhà số TTT, Phường 04, V Công an Phường phát hiện ông NPT có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở test ma túy. Qua kết quả xét nghiệm nhanh về ma túy xác định NPT dương tính với ma túy.

Căn cứ Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 11/12/2017 của Trung tâm y tế dự phòng V thì NPT dương tính với ma túy và Thông báo về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 16/12/2017 của Cơ sở Xã hội Thanh Thiếu Niên 2 kết luận như sau: NPT nghiện ma túy đá (Amphetamine)

Tại Văn bản số 49/LĐTBXH ngày 09/01/2018 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội V đề nghị Tòa án nhân dân V xem xét áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với NPT là người nghiện ma túy từ ngày 09/12/2017; hình thức sử dụng: Hút; loại ma túy sử dụng: Ma túy tổng hợp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân V phát biểu:

1. Việc tuân theo pháp luật của Tòa án:

- Tòa án nhân dân V đã thực hiện đúng quy định về thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Điều 7 Pháp lệnh số 09 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.

- Tòa án nhân dân V thụ lý vụ việc đúng thời hạn theo quy định tại Điều 8, thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân về việc thụ lý vụ việc đúng quy định tại Điều 11 Pháp lệnh 09 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014;

- Thực hiện phân công Thẩm phán xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Pháp lệnh số 09 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014;

- Tòa án nhân dân V triệu tập thành phần tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại Điều 20 Pháp lệnh 09 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.

2. Quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đương sự có tên nêu trên. Đề nghị Tòa án nhân dân V giải quyết theo hướng đồng ý đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội V.

XÉT THẤY:

Qua nghiên cứu hồ sơ thấy rằng: Về trình tự thủ tục, cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng quy định tại Điều 95, 96; Điểm b Khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Nghị định 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để xác định NPT là đối tượng nghiện ma túy từ ngày 09/12/2017. Do đó, xét thấy cần phải đưa đối tượng NPT vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhất định để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe. Về nhân thân: NPT không có tiền án, không có tiền sự. Tại phiên họp, NPT tự nguyện khai báo, thành khẩn hối lỗi nên cần phải tạo điều kiện cho đối tượng cai nghiện được ma túy, tái hòa nhập cộng đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân thành phố B thành lập đối với NPT.

.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là Cơ sở Cai nghiện ma túy Đức Hạnh tiếp nhận ban đầu để điều trị cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý, chăm sóc, phục hồi sức khỏe cho người nghiện ma túy trước khi thi hành quyết định của Tòa án đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 11/12/2017.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.

3. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân V có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội V; Cơ sở Xã Hội Thanh Thiếu Niên 2; Cơ sở Cai nghiện ma túy Đức Hạnh; Công an V; Công an Phường 04 V; Ủy ban nhân dân Phường 04 V; các cơ quan, tổ chức có liên quan và ông NPT có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ