vanban.org

Quyết định 64/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 15/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phương Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phương Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giữ là ngày 04/7/2022. Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Phương Văn T số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phương Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phương Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2022/HS-ST
Ngày 15-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Giáp Thanh Long

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Chu Mai Hương

Bà Lương Thuỳ Linh

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hạnh -Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Lương Minh Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2022/TLST-HS, ngày 27 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:

Phương Văn T, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1994 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phương Văn L, sinh năm 1968 (đã chết) và bà Hà Thị C, sinh năm 1968; vợ: Hoàng Thị B, sinh năm 1998; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 04/7/2022 đến ngày 07/7/2022 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Vương Văn Đ; vắng mặt.

+ Anh Tô Văn H; vắng mặt.

+ Anh Hoàng Văn T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 27/6/2022, Phương Văn T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát (BKS): 12L1 - 039.16 từ nhà đi ra thành phố Lạng Sơn với mục đích để mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy khác để kiếm lời. Khi đi đến khu vực xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Phương Văn T gặp và đặt vấn đề mua ma túy với một người phụ nữ (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người phụ nữ này), người phụ nữ đồng ý và bán cho Phương Văn T 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất ma túy Heroine với giá tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy Phương Văn T điều khiển xe mô tô quay về nhà ở của mình tại thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Hàng ngày Phương Văn T sẻ lấy một ít từ gói ma túy mua được vào ngày 27/6/2022 ra để sử dụng và khi nào có người hỏi mua thì Phương Văn T mới chia một phần nhỏ gói ma túy mua được ra để bán. Trong khoảng thời gian từ ngày 27/6/2022 đến ngày 30/6/2022, Phương Văn T đã 03 (ba) lần thực hiện hành vi bán ma túy cho 03 người nghiện, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 27/6/2022, tại khu vực gần nhà ở của Phương Văn T thuộc thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đã bán cho Hoàng Văn T 01 (một) gói ma túy Heroine với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy với Phương Văn T, Hoàng Văn T mang ma túy lên khu vực đồi thuộc thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn một mình sử dụng hết.

Lần thứ hai: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 30/6/2022, cũng tại khu vực gần nhà ở của Phương Văn T thuộc thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đã bán cho Tô Văn H 01 (một) gói ma túy Heroine với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy với Phương Văn T, Tô Văn H mang ma túy lên khu vực đồi thuộc thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn một mình sử dụng hết.

Lần thứ ba: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 30/6/2022, Phương Văn T gặp và bán cho Vương Văn Đ 01 (một) gói ma túy Heroine với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tại khu vực thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi mua được ma túy với Phương Văn T, Vương Văn Đ mang ma túy lên khu vực đồi thuộc thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn một mình sử dụng hết. Sau khi bán ma túy cho Hoàng Văn T, Tô Văn H và Vương Văn Đ, số ma túy Heroine còn lại mà Phương Văn T đã mua được ngày 27/6/2022 nêu trên Phương Văn T tiếp tục mang ra sử dụng hết cho bản thân.

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/7/2022, Phương Văn T tiếp tục điều khiển xe mô tô mang BKS: 12L1 - 039.16 từ nhà đi ra thành phố Lạng Sơn. Khi đi đến thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Phương Văn T gặp và rủ Vương Văn Đ cùng đi ra thành phố Lạng Sơn chơi, Vương Văn Đ đồng ý và ngồi sau xe mô tô của Phương Văn T. Khi đi đến khu vực ngã tư M, thành phố L, Phương Văn T bảo Vương Văn Đ ngồi uống nước ở quán nước vỉa hè đợi Phương Văn T đi mua đồ dùng cá nhân, sau đó Phương Văn T điều khiển xe mô tô đi đến khu vực thôn N, xã H, huyện C để tìm mua ma túy. Tại đây Phương Văn T gặp và đặt vấn đề mua ma túy với một người phụ nữ (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người phụ nữ này), người phụ nữ đồng ý và bán cho Phương Văn T 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất ma túy Heroine với giá tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy Phương Văn T cất gói ma túy vừa mua được vào trong túi phía trong, bên trái áo khoác đang mặc và điều khiển xe mô tô đi đến chỗ của Vương Văn Đ ngồi đợi và đón Vương Văn Đ đi về nhà ở của mình tại thôn N, xã T, huyện L. Khi đi đến khu Minh Khai, thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn kiểm tra, phát hiện và thu giữ gói ma túy mà Phương Văn T đã cất giấu trong túi áo khoác đang mặc như đã viện dẫn ở trên.

Tại Bản kết luận giám định số: 248/KL-KTHS ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Phương Văn T đựng trong phong bì gửi giám định là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,109 gam (đã trừ bì).

Tại cơ quan điều tra bị cáo Phương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.

Người làm chứng anh Hoàng Văn T trình bày tại Cơ quan điều tra: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 27/6/2022, Phương Văn T đã bán cho Hoàng Văn T 01 (một) gói ma túy Heroine với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy Hoàng Văn T mang ma túy lên khu vực đồi thuộc thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn một mình sử dụng hết.

Nguời làm chứng anh Tô Văn H trình bày tại Cơ quan điều tra vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 30/6/2022, Phương Văn T đã bán cho anh 01(một) gói ma túy Heroine với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy Tô Văn H mang ma túy lên khu vực đồi thuộc thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn một mình sử dụng hết.

Nguời làm chứng anh Vương Văn Đ trình bày tại Cơ quan điều tra vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 30/6/2022 Vương Văn Đ đã mua 01 (một) gói ma túy Heroine với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tại khu vực thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn với Phương Văn T. Sau đó Vương Văn Đ đã mang ma túy lên khu vực đồi thuộc thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn một mình sử dụng hết. Đến ngày 04/7/2022 có cùng Phương Văn T đi ra thành phố L chơi tuy nhiên việc Phương Văn T đi mua ma tuý thì Vương Văn Đ không biết.

Tại Bản cáo trạng số 66/CT-VKSLB ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Phương Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phương Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; xử phạt bị cáo Phương Văn T từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm 6 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì bị cáo là người sử dụng ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng; về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư có chữ "Đồ vật, tài liệu chứng cứ thu giữ của Phương Văn T khi bị bắt quả tang" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh Thái, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,085 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói (cũ); truy thu của bị cáo Phương Văn T số tiền 600.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước; về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy lỗi lầm của bản thân, xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Người làm chứng của vụ án anh Vương Văn Đ, anh Tô Văn H, anh Hoàng Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra. Theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn xét xử vắng mặt người này.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Trong các ngày 27/6/2022 và 30/6/2022, tại khu vực thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Phương Văn T đã có hành vi 03 (ba) lần bán trái phép chất ma túy Heroine cho những người nghiện, cụ thể: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 27/6/2022, Phương Văn T bán cho Hoàng Văn T 01 (một) gói ma túy Heroine với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng); khoảng 14 giờ 00 phút ngày 30/6/2022, Phương Văn T bán cho Tô Văn H 01 (một) gói ma túy Heroine với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng); khoảng 21 giờ 00 phút ngày 30/6/2022, Phương Văn T bán cho Vương Văn Đ 01 (một) gói ma túy Heroine với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Tổng số ma túy Heroine phát hiện, thu giữ trên người của Phương Văn T có tổng khối lượng 0,109 gam (đã trừ bì). Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phương Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Chính vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh đúng theo pháp luật nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về nhân thân, tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật do đó bị cáo là người có nhân thân tốt. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo là dân tộc Tày, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình thuộc hộ nghèo của xã. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội, gia đình và đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo người nghiện ma tuý, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, gia đình là hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Phương Văn T có thu lợi bất chính từ việc bán ma túy với số tiền là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng), do vậy cần truy thu số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,085 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói (cũ) trong 01 (một) phong bì thư có chữ "Đồ vật, tài liệu chứng cứ thu giữ của Phương Văn T khi bị bắt quả tang" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn Đen - Bạc, BKS: 12L1-039.16, có số máy: HC12E3435262, số khung: 107BY637047, vỏ xe có nhiều vết xước, nứt, vỡ; tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Hà Thị Chiều là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với hai người phụ nữ đã bán ma túy cho Phương Văn T tại khu vực xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn vào các ngày 27/6/2022 và 04/7/2022, bị cáo Phương Văn T không biết được họ tên và địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tổ chức xác minh, điều tra nhưng chưa xác định được, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Vương Văn Đ, Tô Văn H, Hoàng Văn T đều là người nghiện ma túy, đã mua ma túy của Phương Văn T để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra ngày 04/7/2022 Vương Văn Đ đã cùng Phương Văn T đi đến thành phố Lạng Sơn, tuy nhiên Phương Văn T không nói cho Vương Văn Đ biết mục đích Thượng đi thành phố Lạng Sơn để tìm mua ma túy nên Vương Văn Đ không biết sự việc trên, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bà Hà Thị Chiều là mẹ đẻ của bị cáo Phương Văn T: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô BKS: 12L1-039.16 là xe mô tô Phương Văn T mượn của bà Hà Thị Chiều để đi chơi. Bà Hà Thị Chiều không biết Phương Văn T sử dụng chiếc xe mô tô trên đi ra thành phố để mua ma túy, do đó Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với bà Hà Thị Chiều là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Phương Văn T đã gây ra nên được chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ vào khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 293, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phương Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phương Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giữ là ngày 04/7/2022.

3. Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Phương Văn T số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,085 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói (cũ) trong 01 (một) phong bì thư có chữ "Đồ vật, tài liệu chứng cứ thu giữ của Phương Văn T khi bị bắt quả tang" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh Thái, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/10/2022).

5. Về án phí: Bị cáo Phương Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Phương Văn T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ