vanban.org

Quyết định 64/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Viết B và bà Hoàng Thị Kim O. 2.

TAND tỉnh Bình Dương; VKSND huyện Dầu Tiếng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Viết B-Hoàng Thị Kim O"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Viết B và bà Hoàng Thị Kim O. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 64/2019/QĐST-HNGĐDầu Tiếng, ngày 05 tháng 4 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 126/2019/TLST/HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2019, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Viết B, sinh năm 1974; HKTT: Ấp Đ, xã Đ1, huyện D, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Bà Hoàng Thị Kim O, sinh năm 1974; HKTT: Ấp Đ, xã Đ1, huyện D, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84, 85, 86 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 28 tháng 3 năm 2019.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 28 tháng 3 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Viết B và bà Hoàng Thị Kim O. 2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: 2.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Viết B và bà Hoàng Thị Kim O thuận tình ly hôn. 2.2. Về con chung: Ông Nguyễn Viết B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 29/01/2012. Bà Hoàng Thị Kim O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Kim H, sinh ngày 09/3/2004. Hai con chung tên Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 30/9/1993 và Nguyễn Viết H, sinh ngày 17/6/1997 đã đủ tuổi trưởng thành nên Tòa án không giải quyết. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Viết B và bà Hoàng Thị Kim O về việc không yêu cầu các bên phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu. 2.3. Về tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2.4. Về nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2.5. Về án phí: Ông Nguyễn Viết B tự nguyện chịu toàn bộ số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, sau khi khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0031338 ngày 20 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương; ông B được nhận lại số tiền là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng). 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ