vanban.org

Quyết định 63/2019/QĐST-DS — Y/c công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án

TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 24/05/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chị Nguyễn Thị H1 đồng ý trả nợ cho chị Lê Thị H số tiền mua hàng mỹ phẩm linh hương còn thiếu là 1.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án — án dân sự — "Yêu cầu việc dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chị Nguyễn Thị H1 đồng ý trả nợ cho chị Lê Thị H số tiền mua hàng mỹ phẩm linh hương còn thiếu là 1.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 417 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƯU- NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 63/2019/QĐST-DSQuỳnh Lưu, ngày 24 tháng 05 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH NGOÀI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Đóa

Thư ký phiên họp: Ông Hồ Diên Tuấn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 05 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An mở phiên họp xét công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thụ lý số 62/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 05 năm 2019 theo Quyết định mở phiên họp số 70/2019/QĐST-DS ngày 16 tháng 05 năm 2019.

1. Chị Lê Thị H, sinh năm 1988;

Địa chỉ: thôn T, thị trấn QX, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

2. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1996;

Nơi ĐKHKTT: xóm 18, xã QL, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Trú tại: xóm 7, xã QH, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Chị Lê Thị H và chị Nguyễn Thị H1 yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án với nội dung:

- Chị Lê Thị H trình bày: Chị và chị Nguyễn Thị H1 quen biết nhau qua mạng internet từ ngày 10/02/2019 và có những giao dịch mua bán mỹ phẩm cùng nhau. Bắt đầu từ ngày 20/02/2019 chị H1 hỏi làm Đại lý nhánh dưới của chị và nhập hàng mỹ phẩm từ chị. Chị đồng ý và hai bên thỏa thuận về vấn đề hàng hóa và thanh toán công nợ cụ thể: (theo 2 đợt: đợt 1 vào ngày 05/03/2019, đợt 2 vào ngày 20/03/2019.

Bắt đầu từ ngày 21/02/2019 chị H1 báo đơn và yêu cầu chị xuất hàng (chị bắt đầu xuất hàng từ ngày 21/02/2019, cứ thế đến các ngày tiếp theo chị H1 dục hàng và yêu cầu chị liên tục xuất hàng cho đến ngày 04/03/2019) đơn hàng chị xuất cho chị Nguyễn Thị H1 với tổng giá trị 1.843.705.000 (Một tỷ tám trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm linh năm nghìn) đồng. Đến ngày 05/03/2019 chị yêu cầu chị H1 thanh toán được 50% công nợ như hai bên thỏa thuận trước đó. Chị H1 lấy mọi lý do để trì hoãn công nợ của mình và yêu cầu chị tiếp tục xuất hàng nhưng do chị H1 đã không giữ lời hứa về thanh toán nợ theo đúng hẹn, nên chị đã cắt cung cấp hàng cho chị H1. Từ ngày 05/03/2019 chị liên tục gọi điện yêu cầu chị H1 thanh toán tiền hoặc trả hàng lại cho chị, nhưng chị H1 đều đưa ra lý do không thích đáng nhằm trì hoãn công nợ với chị.

Đến ngày 13/03/2019 chị và một người tên là Hà Thị Hằng (là kế toán của tổng đại lý mỹ phẩm Linh hương và chị Lò Thị Điệp là người trực tiếp đổ hàng cho chị) đi vào nhà chị Nguyễn Thị H1 trong Nghệ An để yêu cầu chị H1 viết giấy xác nhận công nợ cho chị (trong giấy chị H1 có ghi rõ nội dung tất cả những sản phẩm lấy của chị) và hứa tiếp đến ngày 20/3/2019 sẽ thanh toán đủ số tiền hoặc trả hết hàng cho chị.

Trong thời gian đó, chị liên tục gọi điện dục hàng và công nợ, ngày 18/03/2019 chị H1 có gửi trả lại cho chị một lượng hàng trị giá 45.882.000 (Bốn mươi lăm triệu tám trăm tám mươi hai nghìn) đồng.

Cho đến nay chị Nguyễn Thị H1 vẫn không thanh toán được cho chị thêm được khoản nợ nào nữa. Đến ngày 29/03/2019 chị H1 có viết giấy xác nhận nợ. Trong đó, có nội dung do chị H1 chưa nhận được tiền của khách hàng khác nên không có tiền trả nợ cho chị và hứa sẽ trả nợ cho chị mỗi tháng 3.000.000 (ba triệu) đồng cho đến khi hết nợ. Nay chị H yêu cầu chị Nguyễn Thị H1 trả số tiền mua hàng mỹ phẩm linh hương còn thiếu 1.797.823.000 (Một tỷ bảy trăm chín mươi bảy triệu tám trăm hai mươi ba nghìn) đồng.

- Chị Nguyễn Thị H1 trình bày: Chị là người mua mỹ phẩm linh hương của chị Lê Thị H và còn nợ số tiền mua hàng mỹ phẩm linh hương còn thiếu 1.797.823.000 (Một tỷ bảy trăm chín mươi bảy triệu tám trăm hai mươi ba nghìn) đồng. Chị thừa nhận toàn bộ lời trình bày của chị Lê Thị H là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nhận định.

Chị Lê Thị H và chị Nguyễn Thị H1 quen biết nhau qua mạng internet từ ngày 10/02/2019 và có những giao dịch mua bán mỹ phẩm cùng nhau.

Kể từ ngày 21/02/2019 cho đến ngày 04/03/2019 chị Lê Thị H đã xuất hàng cho chị Nguyễn Thị H1 với tổng giá trị 1.843.705.000 (Một tỷ tám trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm linh năm nghìn) đồng.

Đã nhiều lần chị H yêu cầu chị H1 trả nợ cho chị nhưng chị H1 không trả được. Đến ngày 18/03/2019 chị H1 có gửi trả lại cho chị một lượng hàng trị giá 45.882.000 (Bốn mươi lăm triệu tám trăm tám mươi hai nghìn) đồng.

Hiện nay chị H1 còn nợ chị H số tiền mua hàng mỹ phẩm linh hương còn thiếu là 1.797.823.000 (Một tỷ bảy trăm chín mươi bảy triệu tám trăm hai mươi ba nghìn) đồng.

Theo biên bản hòa giải thành lập ngày 09 tháng 05 năm 2019 do Hòa giải viên bà Lê Thị Thủy của Trung Tâm hòa giải, đối thoại đặt tại Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An thì chị Nguyễn Thị H1 thỏa thuận trả nợ cho chị Lê Thị H số tiền mua hàng mỹ phẩm linh hương còn thiếu là 1.797.823.000 (Một tỷ bảy trăm chín mươi bảy triệu tám trăm hai mươi ba nghìn) đồng.

Nội dung thỏa thuận ghi trong biên bản hòa giải thành ngày 09 tháng 05 năm 2019 của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước và người thứ ba.

Căn cứ vào khoản 7 Điều 27, Điều 149, Điều 417 và Điều 419 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 430, Điều 440 của Bộ luật dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thụ lý số 62/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 05 năm 2019, cụ thể như sau:

- Chị Nguyễn Thị H1 đồng ý trả nợ cho chị Lê Thị H số tiền mua hàng mỹ phẩm linh hương còn thiếu là 1.797.823.000 (Một tỷ bảy trăm chín mươi bảy triệu tám trăm hai mươi ba nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Điều 2. Lệ phí chị Lê Thị H chịu 300.000đ (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004319 ngày 09 tháng 05 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Điều 4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ