- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 62/2021/QĐST- HNGĐ | Bỉm Sơn, ngày 02 tháng 8 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ
TÕA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
Căn cứ vào khoản 2 Điều 29, Điều 397, Điều 212, Điều 213, khoản 3 Điều 144, khoản 2 Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án mục 1.1 phần B danh mục về lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 95/2021/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2021 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con khi ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
1/ Chị Lê Thị C - Sinh năm 1984
Địa chỉ: SN X , khu 10, phường B , thị xã B , tỉnh T
2/ Anh Trần Văn M - Sinh năm 1982
Địa chỉ: SN X, khu 10, phường B , thị xã B , tỉnh T
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
[1] Chị Lê Thị C và anh Trần Văn M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B , thị xã B , tỉnh T , và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/7/2006. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp về tính cách nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng căng thẳng, không tìm được tiếng nói chung. Đến nay, chị C và anh M đều xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
Xét việc thuận tình ly hôn của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Lê Thị C và anh Trần Văn M.
[2] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là:
Trần Minh Q , sinh ngày 30/01/2007 (nam)
Trần Gia B , sinh ngày 17/8/2011 (nam)
Hai bên thống nhất, giao cả 02 cháu Trần Minh Q và Trần Gia B cho chị Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Trần Văn M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Gia B cùng chị Lê Thị C là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Trần Gia B đủ 18 tuổi.
Khoản đóng góp nuôi con chung được tính từ ngày Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi.
Việc thỏa thuận về nuôi con chung của các bên là phù hợp nên Tòa án công nhận sự thỏa thuận về nuôi con giữa chị Lê Thị C và anh Trần Văn M.
[3] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của những người yêu cầu được ghi trong biên bản ghi nhận hòa giải đoàn tụ không thành và sự thỏa thuận của các đương sự ngày 23 tháng 7 năm 2021 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị C và anh Trần Văn M.
- Về con chung: Giao con chung cháu Trần Minh Q (nam), sinh ngày 30/01/2007 và cháu Trần Gia B (nam), sinh ngày 17/8/2011 cho chị Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Văn M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Gia B cùng chị Lê Thị C là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Trần Gia B đủ 18 tuổi.
Khoản đóng góp nuôi con chung được tính từ ngày Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi.
Anh Trần Văn M được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cấm.
Vì quyền lợi của con cái, khi cần thiết, các bên đương sự được quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
2. Về lệ phí Tòa án: Lệ phí giải quyết việc dân sự chị Lê Thị C và anh Trần Văn M mỗi người phải nộp 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng), hai bên thống nhất chị C chịu lệ phí của cả hai người phải nộp. Chuyển số tiền chị C đã nộp tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số: AA/2021/0004974 ngày 13 tháng 7 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn sang phần lệ phí của chị C và anh M. Như vậy, các đương sự đã thi hành xong khoản lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thị xã Bỉm Sơn; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn - UBND phường Bắc Sơn, TX Bỉm Sơn - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Tạ Thị Hƣơng |