- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên V về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Trần Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án: 61/2021/DS-ST Ngày: 18-5-2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức.
Hội Thẩm nhân dân:
1. Ông: Lý Văn Hùng.
2. Ông: Nguyễn Văn Ghên.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 18/5/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 154/2021/TLST-DS ngày 31/3/2021 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2021/QĐXXST-DS ngày 20/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2021/QĐST-DS ngày 10/5/2021, giữa:
1. Nguyên đơn: Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên V
(Sau đây gọi tắt là V).
Địa chỉ trụ sở: Tầng 2, tòa nhà R, số 09, đường B, Phường M, Quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G – Chủ tịch Hội đồng thành
viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Minh K – Trưởng Bộ phận tố tụng – Trung tâm thu hồi nợ.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Số 11, đường số 01, khu tái định cư cảng P, Phường S, Quận 8, Tp.HCM.
Theo văn bản ủy quyền ngày 31/12/2020.
2. Bị đơn: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Khu vực 3, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Bà T có mặt, ông T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/12/2020 của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên V (gọi tắt là V), những lời khai tiếp theo cũng như quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Kim T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Nguyên vào ngày 09/01/2019, ông Trần Văn T và Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V (V) có ký hợp đồng tín dụng số 20190109-0009638, theo đó ông T vay số T 42.200.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, lãi suất thỏa thuận 3,92%/tháng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông T có nghĩa vụ thanh toán số T 65.849.083 đồng (bao gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu mỗi tháng trả 2.745.000 đồng, tháng cuối cùng thanh toán 2.714.000 đồng, kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 14/02/2019.
Thực hiện hợp đồng, ông T đã nhận đủ số T vay và chỉ thanh toán cho V số T là 5.514.000 đồng. Từ ngày 12/3/2019 cho đến nay thì ngưng không thanh toán dù V đã có biện pháp nhắc nhở.
Do ông T vi phạm nghĩa vụ nên V khởi kiện yêu cầu ông T phải thanh toán số T gốc và lãi là 60.335.083 đồng.
Ông Trần Quốc T vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai ngày 15/4/2021 và quá trình giải quyết vụ án, ông trình bày: Ông T xác nhận có ký hợp đồng tín dụng để vay của V số T 42.200.000 đồng, đến nay còn nợ lại số T gốc và lãi tổng cộng là 60.335.083 đồng như người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày là đúng nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên ông T xin miễn thanh toán khoản T lãi, chỉ thanh toán nợ gốc thành 02 đợt:
Đợt 01 thanh toán số T 30.000.000 đồng vào ngày 10/5/2021
Đợt 02 thanh toán số T 9.972.890 đồng.
Tòa án có tiến hành hòa giải nhưng các bên không thống nhất ý kiến. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý với đề nghị xin miễn T lãi của ông T.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai công khai tại phiên toà, trên cơ sở trình bày của đương sự, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
1.Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Công ty V khởi kiện yêu cầu ông Trần Quốc T phải thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng. Quan hệ pháp luật có phát sinh tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Ông T hiện cư trú tại thị trấn H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Theo quy định tại các điều 26, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T trong đó có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục chung là đúng quy định tại các điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Về nội dung,
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn giao nộp và những lời khai tiếp theo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có căn cứ để xác định giữa ông Trần Quốc T và V có giao kết hợp đồng tín dụng, thể hiện qua giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng được hai bên ký kết vào ngày 09/01/2019, số T vay là 42.200.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, lãi suất thỏa thuận 3,92%/tháng. Theo thỏa thuận, ông T có trách nhiệm thanh toán số T 65.849.083 đồng (bao gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng.
Nhưng từ khi nhận giải ngân cho đến nay ông T chỉ thanh toán được số T 5.514.000 đồng, còn nợ lại số T 60.335.083 đồng (bao gồm cả gốc và khoản T lãi).
Ông T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình giải quyết vụ án ông T cũng thừa nhận còn nợ lại của V số T gốc và lãi là 60.335.083 đồng. Tại biên bản hòa giải do Tòa án tiến hành thì ông T cam kết trả số T gốc 30.000.000 đồng vào ngày 10/5/2021 nhưng đến nay ông T vẫn không thực hiện
Như vậy, ông Tú đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý miễn, giảm khoản T lãi suất theo đề nghị của ông T.
Do vậy, xét yêu cầu khởi kiện của V yêu cầu ông Trần Quốc T phải thanh toán khoản nợ vay số T là 60.335.083 đồng (gồm T gốc là: 39.972.890 đồng; T nợ lãi là 20.362.193 đồng) là có căn cứ, phù hợp với Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 91, 95 và 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về mức lãi suất cho vay là 3,92%/tháng và cách tính lãi theo thỏa thuận trong văn bản đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết và thực hiện là đúng pháp luật, phù hợp quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có căn cứ chấp nhận.
. Về lãi suất chậm thi hành án: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định các khoản lãi theo thỏa thuận trong văn bản đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng nêu trên đã chấm dứt không còn phát sinh kể cả trong giai đoạn thi hành án nên ông T không phải chịu lãi suất chậm trả trong giai đoạn thi hành án.
. Về án phí: Ông Trần Quốc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5% trên số T nguyên đơn khởi kiện được Hội đồng xét xử chấp nhận để sung ngân sách Nhà nước là đúng quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 93, khoản 2, 3 Điều 95, điểm a, khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên V về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Trần Quốc T.
Buộc ông Trần Quốc T phải thanh toán cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng tổng số nợ gốc và lãi là 60.335.082 đồng
2. Về lãi suất chậm thi hành án: Ông Trần Quốc T không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.
3. Về án phí:
Buộc ông Trần Quốc T phải nộp 3.016.754 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
Hoàn lại cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên V T tạm ứng án phí đã nộp là 1.508.000 đồng theo biên lai thu số 7804 ngày 30/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà.
4. Án xử sơ thẩm tuyên án công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Công Thức |