vanban.org

Quyết định 61/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Buồi Thanh S.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Buồi Thanh S.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 61/QĐ-TAThủ Dầu Một, ngày 16 tháng 8 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Nguyễn Duy Sinh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Hồng Vân.

Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; theo Quyết định mở phiên họp số 61/QĐ-TA ngày 09/8/2019 đối với:

Họ và tên: Buồi Thanh S.

Giới tính: Nam.

Sinh năm 1990.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 5/12.

Nguyên quán: Bình Dương.

Hộ khẩu thường trú: Số 1, tổ 9, khu 8, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Chỗ ở hiện nay: Số 1, tổ 9, khu 8, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Con ông Buồi Văn C và bà Nguyễn Thị Thu N.

Buồi Thanh S vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Duy Văn – Cán bộ Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Dầu Một.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một: Bà Lưu Kim Hằng – Kiểm sát viên.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Ông Buồi Thanh S, vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Buồi Thanh S do Phòng lao động, Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Dầu Một chuyển đến thể hiện:

Do Buồi Thanh S có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Chủ tịch UBND phường Phú Thọ đã ban hành Quyết định số 347/QĐ-UBND ngày 05/10/2018 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với Buồi Thanh S, thời gian giáo dục là 03 tháng từ ngày 05/10/2018 đến ngày 05/01/2019. Đến ngày 21/6/2019, Công an phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương phát hiện Buồi Thanh S có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và Chủ tịch UBND phường Phú Thọ đã ban hành Quyết định về việc lập hồ sơ đề nghị đưa Buồi Thanh S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đồng thời, Chủ tịch UBND phường Phú Thọ đã ban hành Quyết định giao Buồi Thanh S cho gia đình quản lý. Ngày 28/6/2019, Công an phường Phú Thọ ban hành Thông báo số 09/TB-CAP về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Thông báo này đã được giao cho Buồi Thanh S.

Ngày 05/8/2019, Trưởng phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Dầu Một đã ban hành Văn bản 433/LĐ.TBXH về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Buồi Thanh S và 02 đối tượng khác.

Đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Dầu Một phát biểu quan điểm: Buồi Thanh S đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đã được giáo dục tại địa phương nhưng vẫn tiếp tục sử dụng và đã được cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý, nên đề nghị Toà án đưa S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 15 tháng đến 18 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một phát biểu quan điểm: Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Buồi Thanh S đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình thụ lý giải quyết và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Do Buồi Thanh S có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã được giáo dục tại địa phương nhưng vẫn tiếp tục sử dụng nên việc Trưởng phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Dầu Một đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp. Đề nghị Toà án giải quyết theo hướng chấp nhận theo lời đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Dầu Một.

XÉT THẤY:

Do Buồi Thanh S sử dụng trái phép chất ma tuý và có nơi cư trú ổn định nên Chủ tịch UBND phường Phú Thọ đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với S trong thời gian 03 tháng từ ngày 05/10/2018 đến ngày 05/01/2019 là phù hợp với quy định tại điểm d khoản 2 Điều 4 của Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ, đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 1 Điều 1 của Nghị định 56/NĐ2016/-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ. Mặc dù Buồi Thanh S đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại phường nhưng S lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị phát hiện vào ngày 21/6/2019 nên Chủ tịch UBND phường Phú Thọ ban hành Quyết định về việc lập hồ sơ đề nghị đưa Buồi Thanh S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp với Nghị định 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ.

Theo Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 21/6/2019 của Trung tâm y tế thành phố Thủ Dầu Một thể hiện Buồi Thanh S có nghiện ma tuý, loại Methamphetamine.

Buồi Thanh S có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và bị phát hiện vào ngày 21/6/2019 tính đến ngày Toà án mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét thấy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Buồi Thanh S là phù hợp với quy định tại các điều 95, 96 và 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, các Điều 3, 8, 10 và 11 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, Điều 1 của Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ. Hồ sơ đã được Trưởng phòng Tư pháp kiểm tra và xác định hồ sơ đã đảm bảo tính pháp lý.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Buồi Thanh S đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những tội phạm hình sự khác. Bản thân Buồi Thanh S đã được giáo dục tại địa phương nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, cần thiết phải đưa Buồi Thanh S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để chữa bệnh, lao động, học văn hóa và học nghề nhằm giúp S trở thành người tốt và có ích cho xã hội.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Dầu Một về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Buồi Thanh S trong thời gian từ 15 tháng đến 18 tháng là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Buồi Thanh S.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Quyết định được công bố.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Dầu Một có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ