vanban.org

Quyết định 61/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Thị Thu T, sinh ngày: 05/4/1997.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp H, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Cơ sở cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Kiên Giang. Địa chỉ: ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Thị Thu T, sinh ngày: 05/4/1997.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒN ĐẤT
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 61/QĐ-TAHòn Đất, ngày 15 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp, gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tú Quỳnh

2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Thành Nguyên

Ngày 15 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòn Đất mở phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 65/QĐ-TA ngày 13 tháng 5 năm 2025 đối với:

Đối với: Trương Thị Thu T .Sinh ngày: 05/4/1997.

Giới tính: Nữ

CCCD số: 091197013184, cấp ngày: Nơi cấp: Cục C về TTXH.

Nghề nghiệp: không có.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp H, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Con ông Trương Hoài P và bà Đặng Kim B.

(Người bị đề nghị có mặt)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Công an xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn H - Chức vụ: Trưởng Công an xã L (có mặt).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang: Ông Lương Thành Trung - Kiểm sát viên (có mặt).

NHẬN THẤY:

Tại văn bản đề nghị số 74/ĐN-CNBB ngày 08/5/2025 của Công an xã L về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Thị Thu T, cũng như các tài liệu chứng khác có trong hồ sơ đã xác định:

Vào lúc 22 giờ 30 phút, ngày 01/12/2024, Trương Thị Thu T có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang tiến hành test nhanh, xác định T dương tính với chất ma túy nên đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Thị Thu T với số tiền là 1.500.000 đồng. Đồng thời, tại Quyết định số 27/QĐ-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L biện pháp quản lý hành chính người sử dụng trái phép chất ma tuý, thời hạn quản lý đối với Trương Thị Thu T là 01 năm, kể từ ngày 06/12/2024.

Ngày 29/4/2025, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và bị Công an xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang phát hiện và tiến hành test nhanh, xác định dương tính với chất ma túy. Cùng ngày, Công an xã L biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T. Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý ngày 29/4/2025 của Công an xã L đã kết luận T dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại bản tường trình đề ngày 30/4/2025, T thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 29/4/2025 và không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T, thời hạn 12 tháng đến 14 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang phát biểu về quá trình tiến hành các thủ tục giải quyết vụ việc như sau: Thẩm phán đã tiến hành thụ lý, giải quyết và mở phiên họp đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Công an xã L đã tiến hành lập đầy đủ hồ sơ và đủ căn cứ để đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của đại diện Cơ quan đề nghị và người bị đề nghị thể hiện: Trương Thị Thu T là người nghiện ma tuý, mặc dù T là người có nơi cư trú ổn định nhưng tính từ ngày 06/12/2024 cho đến ngày 29/4/2025 là chưa hết thời hạn bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng T lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trong quá trình lập hồ sơ và phiên họp, T xác định không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên căn cứ quy định tại Điều 95, Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy thì T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, đại diện Viện kiểm sát thống nhất với ý kiến đề nghị của Cơ quan đề nghị về việc đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với T thời gian từ 12 tháng đến 14 tháng để T có thời gian cai nghiện và học tập tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Kiên Giang.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất nhận định như sau:

. Về trình tự thủ tục: Qua xem xét hồ sơ, do cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T đã được thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các Điều 95, Điều 96, điểm b khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 27, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy (Nghị định 116/2021/NĐ-CP). Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC ngày 01/03/2025.

[2]. Về nội dung:

Vào lúc 22 giờ 30 phút, ngày 01/12/2024, Trương Thị Thu T có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang tiến hành test nhanh, xác định T dương tính với chất ma túy nên đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Thị Thu T với số tiền là 1.500.000 đồng. Đồng thời, tại Quyết định số 27/QĐ-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L biện pháp quản lý hành chính người sử dụng trái phép chất ma tuý, thời hạn quản lý đối với Trương Thị Thu T là 01 năm, kể từ ngày 06/12/2024.

Ngày 29/4/2025, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và bị Công an xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang phát hiện và tiến hành test nhanh, xác định dương tính với chất ma túy. Cùng ngày, Công an xã L biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T. Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý ngày 29/4/2025 của Công an xã L đã kết luận T dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại bản tường trình đề ngày 30/4/2025, T thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 29/4/2025 và không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện.

Xét thấy, mặc dù Trương Thị Thu T là người có nơi cư trú ổn định, tính từ ngày 06/12/2024 cho đến ngày 29/4/2025 là chưa hết thời hạn bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng T lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trong quá trình lập hồ sơ và phiên họp, T xác định không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên căn cứ quy định tại Điều 95, Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy thì T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, cơ quan đề nghị đề nghị áp dụng biện xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T là có cơ sở. Tại phiên họp, T đồng ý ở lại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Kiên Giang chữa bệnh, phục hồi sức khỏe để sớm tái hòa nhập cộng đồng.

. Về tình tiết tăng nặng: Trương Thị Thu T bị xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 06/12/2024 chưa hết thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính nhưng tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Trương Thị Thu T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ phân tích trên cho thấy, đề nghị của Công an xã L về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Áp dụng các Điều 95, Điều 96, điểm b khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 27, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC ngày 01/03/2025.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Thị Thu T, sinh ngày: 05/4/1997.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp H, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Cơ sở cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Kiên Giang. Địa chỉ: ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Kiên Giang tiếp nhận quản lý người cai nghiện (ngày 30 tháng 4 năm 2025).

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an xã L; Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Kiên Giang; Công an huyện H; cơ quan, tổ chức có liên quan và Trương Thị Thu T có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Cỡ chữ