- Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Phước T; sinh năm 1996; Nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 61/QĐ-TA | Ba Tri, ngày 15 tháng 12 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI - TỈNH BẾN TRE
Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Bà Trần Thị Huyền Nhung
Thư ký phiên họp: Ông Đặng Hoàng Long
Ngày 15 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 63/QĐ-TA-XLVPHC ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Phước T, sinh năm 1996. Giới tính: Nam.
Số CCCD/định danh cá nhân:
; Ngày cấp: ; Nơi cấp: Cục Cảnh Sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 8/12.
Nguyên quán: Xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Tại Quyết định số 38/QĐ-XPHC ngày 27/02/2023 bị Công an thị trấn B xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt)
Con ông Nguyễn Văn Q (chết) và bà Trần Thị P.
Anh Nguyễn Phước T vắng mặt.
Có sự tham gia của:
- Người đề nghị: Ông Trần Văn Chận –Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng Đệ – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri: Ông Lê Văn Hiển - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 07/12/2023, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri có văn bản số 502/ĐN-CNBB-PLĐTBXH đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Phước T vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện. Cụ thể như sau: Nguyễn Phước T là người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định, đã được đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện. Ngày 27/10/2023, Nguyễn Phước T hoàn thành xong cai nghiện ma túy tự nguyện. Ngày 06/11/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn B ra Quyết định số 52/QĐ-UBND quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Nguyễn Phước T thời hạn 01 năm, từ ngày 06/11/2023 đến ngày 06/11/2024. Ngày 12/11/2023, Nguyễn Phước T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại khu phố 5, thị trấn B. Ngày 13/11/2023, Công an thị trấn B mời Nguyễn Phước T làm việc và tiến hành xét nghiệm nhanh ma túy, kết quả dương tính với ma túy. Tại các biên bản làm việc của Công an thị trấn B và bản tường trình ngày 13/11/2023, Nguyễn Phước T thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 16/11/2023, Trung tâm y tế huyện Ba Tri có phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện đối với Nguyễn Phước T là nghiện ma túy – dạng chất Methamphetamine. Ngày 17/11/2023, Ủy ban nhân dân thị trấn B lập biên bản vi phạm số 92/BB-VPHC về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Tại phiên họp:
- Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri ý kiến: Vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre đóng tại ấp Tân An, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri đối với Nguyễn Phước T với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
- Tòa án đã tống đạt Quyết định mở phiên họp cho Nguyễn Phước T theo quy định pháp luật nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh T.
- Kiểm sát viên tham gia phiên họp ý kiến: Hồ sơ đã được lập đúng theo trình tự thủ tục luật định. Từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp Thẩm phán đã tiến hành đúng trình tự thủ tục. Qua các tài liệu chứng cứ thể hiện, Nguyễn Phước T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy. Anh T nhận thức được tác hại của việc sử dụng ma túy nhưng vẫn tái nghiện nên việc đưa anh T đi cai nghiện theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
XÉT THẤY:
Nguyễn Phước T là người đã thành niên, có nơi cư trú ổn định; Từ ngày 28/4/2023 đến ngày 27/10/2023, Nguyễn Phước T cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre. Ngày 27/10/2023, T chấp hành xong quyết định. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy, anh T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an thị trấn B lập biên bản vi phạm.
Căn cứ phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 13/11/2023; Biên bản làm việc ngày 13/11/2023; Biên bản vi phạm hành chính ngày 13/11/2023 của Công an thị trấn B; Bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 13/11/2023 của Nguyễn Phước T; Biên bản vi phạm số 92/BB-VPHC ngày 17/11/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn B về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 16/11/2023 của Trung tâm y tế huyện Ba Tri có cơ sở xác định anh Nguyễn Phước T có sử dụng ma túy trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy và tái nghiện, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine.
Với những căn cứ trên đã có đủ cơ sở kết luận: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Phước T đã được Công an thị trấn B, Ủy ban nhân dân thị trấn B, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri lập đúng theo trình tự pháp luật quy định. Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri về việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Phước T là có cơ sở và phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, Điều 95, khoản 1 Điều 96 và điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) nên được Tòa án chấp nhận.
Xét tình tiết tăng nặng: Nguyễn Phước T có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính là “tái phạm” theo điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét tình tiết giảm nhẹ: Nguyễn Phước T không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính quy định tại Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Nguyễn Phước T là người trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính; biết rõ chất ma túy là chất độc hại, việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh T đã xâm phạm đến chủ trương, chính sách của Nhà nước về bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư và làm cho tình trạng nghiện của anh T ngày càng trầm trọng. Do đó, việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T là cần thiết và cần áp dụng mức thời gian cai nghiện tương xứng với tình trạng nghiện ma túy của anh T nhằm giúp anh T từ bỏ việc sử dụng ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Phước T; sinh năm 1996; Nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Con ông Nguyễn Văn Q (chết) và bà Trần Thị P.
2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Anh Nguyễn Phước T được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Quyết định được tống đạt theo quy định pháp luật; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri được quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri phối hợp với Công an huyện Ba Tri thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND huyện Ba Tri (1b); - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre (1b); - Phòng LĐ-TB và XH huyện Ba Tri (1b); - Công an huyện Ba Tri (1b); - Công an thị trấn B (1b); - UBND thị trấn B (1b); - Nguyễn Phước T (1b); - Lưu VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Trần Thị Huyền Nhung |