vanban.org

Quyết định 61/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 27/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ một niêm phong chứa ma túy thu giữ của bị cáo(Vật chứng hiện có tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 2024/111 ngày 11/3/2024).

Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Lê Minh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ một niêm phong chứa ma túy thu giữ của bị cáo(Vật chứng hiện có tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 2024/111 ngày 11/3/2024).
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HSST
Ngày: 27/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Huy Long.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo và bà Trần Thị Phương Mai.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hưng Phúc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh: Ông Trần Minh Bằng, kiểm sát viên. Ngày 27/3/2024, tại Điểm cầu Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh và điểm cầu Trại tạm giam công an tỉnh N, Tòa án nhân dân thành phố Vinh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 52/2024/HSST ngày 23/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82 ngày 15/3/2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Minh T; Sinh ngày 30/7/1986 tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: khối C, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Minh L (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L1 (Đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Kim O; Con: có 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt tù 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ra trại ngày 13/5/2023; Nhân thân: Năm 2012, Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò xử phạt tù 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ra trại ngày 28/01/2014; Năm 2016, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt tù 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ra trại ngày 06/12/2018; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay; Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên vào khoảng 07 giờ 45 phút ngày 20/12/2023, Lê Minh T đi Taxi từ nhà đến khu vực chợ M thuộc thị xã C, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp một người đàn ông tên C (thường gọi là Công Bình, T không biết rõ địa chỉ cụ thể). Khi gặp nhau, Lê Minh T hỏi mua một gói ma túy (H) với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), C đồng ý bán. Sau khi nhận tiền, C đưa cho T một gói ma túy được bọc bên ngoài bằng chống ẩm bao thuốc lá màu xanh bên trong có chất cục bột màu trắng. Mua được ma túy, T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi lên xe Taxi về tìm nơi để sử dụng. Khi đi về khu vực ngã tư giao nhau giữa đường N và Lê Viết T1 thuộc xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An thì T xuống xe. Khi T đang đứng ở trên lề đường L thuộc xã H, thành phố V thì bị tổ công tác Công an phường T, thành phố V yêu cầu kiểm tra, ngay lập tức T đã thả gói ma túy vừa mua trên tay trái xuống đất, cạnh vị trí đang đứng. Tổ công tác yêu cầu Lê Minh T nhặt gói ma túy lên. Người và tang vật chứng được đưa về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định niêm phong lại ngày 20/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố V và kết luận giám định số 38/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 25/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất cục bột màu trắng thu giữ của Lê Minh T gửi tới giám định là ma túy; loại He(Heroin); có tên khoa học là D; Số chất cục bột màu trắng thu giữ của Lê Minh T có khối lượng 0,091 gam".

Tại bản cáo trạng số 67 ngày 23/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Lê Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Lê Minh T từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung:

. Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà.

Như vậy, có cơ sở để kết luận: Hồi 08 giờ 35 ngày 20/12/2023, tại khu vực lề đường L, thuộc xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Lê Minh T có hành vi cất giữ trái phép một gói ma túy Heroine có khối lượng 0,091 gam với mục đích sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường T, thành phố V phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo Lê Minh T tàng trữ 0,091 gam Heroin nhưng đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa xóa án tích nên hành vi trên của Lê Minh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý. Bị cáo có nhân thân xấu, vì vậy cần xét xử nghiêm minh đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội trong trường hợp tái phạm nhưng đây là tình tiết định tội nên bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng vì vậy bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải... nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng cũng cần cách ly bị cáo ra khoải đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính là phạt tù còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Về vật chứng: Số ma tuý thu giữ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ;

. Bị cáo phải chịu án phí HSST theo luật định.

. Người đàn ông tên C bán ma túy cho bị cáo, do không biết lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 18 tháng tù (Mười tám tháng tù) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để tạm giữ, tạm giam 20/12/2023.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ một niêm phong chứa ma túy thu giữ của bị cáo(Vật chứng hiện có tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 2024/111 ngày 11/3/2024).

Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Lê Minh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ