vanban.org

Quyết định 61/2022/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/04/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Đỗ Nguyên Long. Hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích số 25/2011/QĐ-VDS ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Hủy QĐ tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 70 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 61/2022/QĐDS-ST
Tân Phú, ngày 07 tháng 4 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: "Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Hoàng Thị Thanh Mai

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận

Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Bà Đoàn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành

phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 139/2021/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2021 về “Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 54/2022/QĐST-DS ngày 18 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên họp số 139/2022/QĐST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

Người yêu cầu: Ông Đỗ Nguyên L, sinh năm 195; Thường trú: chung cư

Vườn Lài, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, TPHCM. Tạm trú: khu phố 5, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Thu T, sinh năm 195; Địa

chỉ: chung cư Vườn Lài, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, TPHCM.

(Tại phiên họp: Ông L có đơn yêu cầu vắng mặt; bà T vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Căn cứ đơn yêu cầu đề ngày 05/05/2021 và các lời khai trong quá trình giải

quyết, người yêu cầu ông Đỗ Nguyên L trình bày:

Năm 1983, ông L và bà Lê Thị Thu T tự nguyện chung sống đến năm 1993

mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyển số 01 ngày 06/8/199.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2006 thì bắt đầu phát sinh nhiều

mâu thuẫn. Để có thêm thu nhập nên ông thường xuyên đi làm xa nhà, lâu lâu mới về nhà. Trong thời gian ông đi làm thì bà T đã nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Phú tuyên bố ông mất tích. Ngày 25/01/2011 Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tuyên bố ông mất tích (theo Quyết định số 25/2011/QĐ-VDS ngày 25/01/2011). Sau đó bà T làm thủ tục yêu cầu ly hôn với ông. Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã thụ lý và giải quyết cho bà T được ly hôn với ông (theo Bản án số 475/2011/HNGĐ-ST ngày 28/7/2011).

Gần đây, ông quay về nhà để làm thủ tục cấp giấy căn cước công dân thì

Công an quận Tân Phú thông báo ông đã bị cắt khẩu khỏi địa chỉ chung cư Vườn Lài, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú với lý do ông đã bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú tuyên bố mất tích.

Nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Phú hủy bỏ Quyết định tuyên bố

một người mất tích số 25/2011/QĐ-VDS ngày 25/01/2011 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú về việc tuyên bố ông mất tích.

Tại phiên họp:

- Người yêu cầu ông Đỗ Nguyên L vẫn giữ nguyên yêu cầu và có đơn đề nghị

Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thu T vắng mặt dù được

Tòa án triệu tập hợp lệ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú trình bày ý kiến:

+ Về tố tụng: Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý đơn yêu cầu yêu cầu

Tòa án nhân dân quận Tân Phú hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích số 25/2011/QĐ-VDS ngày 25/01/2011 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú về việc tuyên bố ông L mất tích là đúng thẩm quyền, xác định quan hệ đúng pháp luật.

+ Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 369, 370, 390 Bộ luật tố tụng dân sự và

Khoản 1 Điều 70 Bộ luật Dân sự năm 2015 đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Phú chấp nhận yêu cầu của ông L về việc hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích số 25/2011/QĐ-VDS ngày 25/01/2011 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

+ Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông L phải chịu án phí theo quy định

pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được

thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Phú nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Đỗ Nguyên L có đơn yêu cầu

hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích số 25/2011/QĐ-VDS ngày 25/01/2011 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú. Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục giải quyết vắng mặt: Ngày 11/11/2021, người yêu cầu ông Đỗ

Nguyên L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thu T vắng mặt dù được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2, 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp giải quyết vắng mặt ông L và bà T.

Về nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết:

Xét, quan hệ hôn nhân giữa ông L và bà T là hợp pháp. Ông L bà T chung

sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Ông L đi làm xa, ít khi về nhà. Tháng 01/201, bà T yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố ông L mất tích theo quy định pháp luật. Tại Quyết định tuyên bố một người mất tích số 25/2011/QĐ-VDS ngày 25/01/2011 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã chấp nhận yêu cầu của bà T tuyên bố ông L mất tích.

Xét, lời trình bày của ông L, Sổ tạm trú, Xác nhận của Công an thị trấn Tân

Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai thì ông L đã trở về và đang sinh sống tại số khu 5, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Nay, ông L có đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố ông mất tích là có cơ sở và phù hợp quy định pháp luật.

Từ những nhận định trên, căn cứ Điều 390 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 70

Bộ luật Dân sự năm 2015 có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Nguyên L về việc hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích số 25/2011/QĐ-VDS ngày 25/01/2011 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Đỗ Nguyên L được miễn lệ phí giải

quyết việc dân sự theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 70 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27, điểm a

khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, 370, 371 và Điều 390 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

Căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Đỗ Nguyên Long.

Hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích số 25/2011/QĐ-VDS ngày

25/01/2011 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú về việc tuyên bố ông Đỗ Nguyên L, sinh năm 195, nơi cư trú cuối cùng: chung cư Vườn Lài, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích.

Ông Đỗ Nguyên L có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để

làm thủ tục đăng ký hộ tích theo quy định pháp luật.

2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Đỗ Nguyên L thuộc trường hợp được

miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày

kể từ ngày nhận được quyết định hoặc tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ