vanban.org

Quyết định 60/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Phƣớc T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mƣời hai) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ (22/5/2019) để đƣa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3/ Ngƣời bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đoàn Phước T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Phƣớc T.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Số: 60/QĐ – TA
Thủ Dầu Một, ngày 13 tháng 8 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Lê Minh Đạo.

2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Anh Duy.

Ngày 13 tháng 8 năm 2019, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 56/QĐ - TA ngày 05 tháng 8 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Đoàn Phƣớc T. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1994.

CMND số 34167xxxx. Ngày cấp: 16/01/2018. Nơi cấp: Công an tỉnh Đồng Tháp.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 11/12

Nguyên quán: Tỉnh Đồng Tháp.

Hộ khẩu thƣờng trú: Số x, ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Đồng Tháp.

Chỗ ở: Không có nơi cƣ trú ổn định.

Nghề nghiệp: Công nhân.

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông Đoàn Văn Đ và bà Trần Thị N.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1/ Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Duy V – Cán bộ Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M.

2/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một: Bà Lƣu Kim Hằng – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Phƣớc T do Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M chuyển đến thể hiện:

Ngày 22/05/2019, Công an phƣờng TA, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện Đoàn Phƣớc T sử dụng trái phép chất ma tuý. Căn cứ phiếu trả lời về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 22/5/2019 của Trung tâm Y tế thành phố M thể hiện: Đoàn Phƣớc T có nghiện ma túy, loại Heroin.

Do đó, Chủ tịch UBND phƣờng TA đã ban hành Quyết định về việc lập hồ sơ đề nghị đƣa Đoàn Phƣớc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Quyết định giao Đoàn Phƣớc T cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng quản lý.

Ngày 31/5/2019, Công an phƣờng TA đã ban hành Thông báo số 03/TB - CAP về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thông báo đã đƣợc giao cho Đoàn Phƣớc T.

Ngày 31/7/2019, Trƣởng Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M đã ban hành văn bản số 358/LĐ.TBXH về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Phƣớc T.

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M phát biểu quan điểm: Đoàn Phƣớc T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Do không có nơi cƣ trú ổn định nên đề nghị Toà án đƣa Đoàn Phƣớc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một phát biểu quan điểm: Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Phƣớc T đúng theo qui định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình thụ lý giải quyết và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng theo các qui định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Do Đoàn Phƣớc T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Bản thân Đoàn Phƣớc T không có nơi cƣ trú ổn định nên việc Trƣởng Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp. Đề nghị Toà án chấp nhận theo lời đề nghị của Phòng lao động thƣơng binh xã hội.

Người bị đề nghị phát biểu: Ông Đoàn Phƣớc T sử dụng trái phép chất ma tuý từ năm 2017. Ngày 22/5/2019, Đoàn Phƣớc T bị công an phƣờng TA phát hiện sử dụng trái phép chất ma tuý, loại Heroin. Đoàn Phƣớc T thống nhất với lời đề nghị của Phòng lao động thƣơng binh xã hội và không có ý kiến gì, cam kết sẽ không tiếp tục sử dụng và xin giảm nhẹ.

XÉT THẤY:

Do Đoàn Phƣớc T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an phƣờng TA lập biên bản vi phạm hành chính. Việc lập biên bản vi phạm hành chính của Công an phƣờng TA đối với Đoàn Phƣớc T là phù hợp theo Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính, đƣợc hƣớng dẫn tại Điều 6 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Theo phiếu trả lời kết quả ngày 22/5/2019 của Trung tâm y tế thành phố M thể hiện Đoàn Phƣớc T có nghiện ma tuý, loại ma tuý là Heroin.

Đoàn Phƣớc T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là ngày 22/5/2019 tính đến ngày Toà án mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa Đoàn Phƣớc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu, theo qui định tại Điểm d Khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính, đƣợc hƣớng dẫn tại Điều 4 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Theo hồ sơ thể hiện Đoàn Phƣớc T có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại số x, ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Đồng Tháp. Tuy nhiên, qua tra cứu hiện Công an xã T2, huyện T3, tỉnh Đồng xác định Đoàn Phƣớc T không cƣ trú tại địa phƣơng, bỏ địa phƣơng đi làm ăn xa, không rõ địa chỉ cụ thể. Do đó có căn cứ xác định Đoàn Phƣớc T không có nơi cƣ trú ổn định theo Điều 2 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Xét thấy, Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Phƣớc T là phù hợp theo qui định tại Điều 95, 96 và Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính, các Điều 8, 9, 10 và Điều 11 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Hồ sơ đã đƣợc Trƣởng phòng tƣ pháp kiểm tra và xác định hồ sơ đã đảm bảo tính pháp lý, theo qui định tại Điều 12 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Đoàn Phƣớc T xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con ngƣời cũng nhƣ ảnh hƣởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những tội phạm hình sự khác. Do đó, cần thiết phải đƣa Đoàn Phƣớc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để chữa bệnh, lao động, học văn hóa và học nghề nhằm giúp Đoàn Phƣớc T trở thành ngƣời tốt và có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Đoàn Phƣớc T có thái độ thành khẩn khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại Khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Phƣớc T trong thời gian 12 tháng đến 15 tháng là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Phƣớc T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mƣời hai) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ (22/5/2019) để đƣa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3/ Ngƣời bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Quyết định đƣợc công bố.

4/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5/ Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ