vanban.org

Quyết định 60/2023/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 28/07/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hoàng KH.

Về lệ phí: Anh Lê Hoàng KH tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số AA/2022/0000847 ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh KH đã nộp đủ lệ phí. Quyết định này … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L - Lê Hoàng Kh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hoàng KH.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:60/2023/QĐST- HNGĐHải Dương, ngày 28 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà – Cán bộ Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu– Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 303/2023/TLST-HNGĐ ngày 03/7/2023, về việc‘‘Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn ". Theo Quyết định mở phiên họp số 279/2023/QĐMPH-HNGĐ ngày 18/7/2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu:

1. Chị Nguyễn Thị L, sinh ngày 15/4/1992.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Hải Dương.

2. Anh Lê Hoàng KH, sinh ngày 20/8/1983.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu 2, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Hiện đang ở: Ba Lan.

Người được anh KH ủy quyền giao nhận văn bản: Chị Lê Thị D, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Tổ 68B, khu 6B, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

(Chị L, anh KH đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai của chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hoàng KH cùng các tài L có trong hồ sơ thể hiện :

- Về quan hệ vợ chồng : Chị L và anh KH tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Hải Dương ngày 19/11/2014. Sau khi đăng ký kết hôn được 01 tháng, anh KH quay lại Ba Lan làm việc và chuẩn bị thủ tục đón chị L sang đoàn tụ. Trong thời gian anh KH ở nước ngoài, chị L ở Việt Nam hai bên đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau dẫn đến bất đồng quan điểm, không tìm thấy tiếng nói chung. Tháng 11/2018 anh KH hoàn tất thủ tục đón chị L sang đoàn tụ, vợ chồng sồng hòa thuận được một thời gian thì tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Đầu năm 2023 chị L đã ra ngoài ở riêng, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Tháng 6/2023 chị L về Việt Nam, cả hai đều xác định không còn tình cảm nên thống nhất làm đơn ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hoàng KH không có, Ly hôn anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hoàng KH đều xác định không có, ly hôn anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về lệ phí: Anh Lê Hoàng KH tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Do anh KH đang sinh sống tại Ba Lan, nên anh đã ủy quyền cho chị Lê Thị D giao và nhận văn bản tại Tòa án. Chị Dung đồng ý nhận ủy quyền của anh KH. Sau khi nhận các văn bản tố tụng chị Dung đã thông tin cho anh KH biết, anh KH vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Anh KH, chị L đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ việc: Căn cứ các tài L có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hoàng KH đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị L và anh KH. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Lê Hoàng KH chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài L, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị L có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Hải Dương. Anh Lê Hoàng KH có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại khu 2, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Hiện anh KH đang sinh sống tại Ba Lan, do vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tài L anh KH gửi về Việt Nam gồm đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền đều được xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Ba Lan. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản anh KH nộp tại Tòa án là đúng ý chí, nguyện vọng của anh KH.

Chị L, anh KH đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hoàng KH được tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Hải Dương ngày 19/11/2014, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới anh KH tiếp tục sang Ba Lan làm việc, chị L ở Việt Nam để chờ thủ tục sang Ba Lan đoàn tụ cùng chồng. Do sống xa nhau, dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm và xảy ra mâu thuẫn. Cuối năm 2018 chị L sang Ba Lan, chị L và anh KH sống hòa thuận cùng nhau một thời gian thì tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2023. Nay anh KH, chị L đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương công nhận sự thuận tình ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh KH đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh chị.

Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hoàng KH đều xác định không có, không để nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét.

. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Lê Hoàng KH chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hoàng KH.

2. Về lệ phí: Anh Lê Hoàng KH tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số AA/2022/0000847 ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh KH đã nộp đủ lệ phí.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ