vanban.org

Quyết định 60/2022/QĐHG-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa anh Bùi Văn N và chị Nguyễn Thị H, cụ thể:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn N và chị Nguyễn Thị H thuận tình ly hôn. 2. Về con chung: Anh Bùi Văn N, chị Nguyễn Thị H có 02 con chung tên là Bùi Duy Ngọc, sinh ngày 24/3/1998, Bùi Thị Thu Hà, sinh ngày 05/5/2007. Vợ chồng ly hôn cháu Ngọc đã trên 18 tuổi, anh N, chị H không yêu cầu Tòa án gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Người khởi kiện anh Bùi Văn N - Người bị kiện chị Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa anh Bùi Văn N và chị Nguyễn Thị H, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải; Điều 33 Luật Hòa giải; Điều 34 Luật Hòa giải
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THỦY
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 60/2022/QĐHG-HNGĐYên Thủy, ngày 18 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

Thẩm phán ra quyết định: Lê Trung Nghĩa

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án ngày 02 tháng 11 năm 2022, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc ly hôn, nuôi con chung, giữa:

Người khởi kiện: Anh Bùi Văn N, sinh năm 1971

Người bị kiện: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977

Cùng địa chỉ: Xóm Hạ, xã Phú Lai, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án.

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên tham gia hòa giải được thể hiện trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án ngày 02 tháng 11 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa anh Bùi Văn N và chị Nguyễn Thị H, cụ thể:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn N và chị Nguyễn Thị H thuận tình ly hôn.

1.2. Về con chung: Anh Bùi Văn N, chị Nguyễn Thị H có 02 con chung tên là Bùi Duy Ngọc, sinh ngày 24/3/1998, Bùi Thị Thu Hà, sinh ngày 05/5/2007. Vợ chồng ly hôn cháu Ngọc đã trên 18 tuổi, anh N, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết còn về cháu Hà, anh N chị H thỏa thuận giao cháu Hà cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và anh Bùi Văn N chưa yêu cầu chị Nguyễn Thị H đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị H chưa phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh N.

Chị Nguyễn Thị H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Trong trường hợp chị H lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì anh N có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con chung của chị H.

Vì lợi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của chị H hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng ly hôn anh N, chị H xin tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

3. Trường hợp quyết định này vi phạm Điều 33 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được quyết định các bên đương sự, người đại diện hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến quyết định và viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền đề nghị, kiến nghị xem xét lại quyết định này theo quy định tại Điều 36 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Cỡ chữ