vanban.org

Quyết định 59/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Nguyễn Trung H. Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trung H là Cơ sở cai nghiện ma Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Trung H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 59/2025/QĐ-TA
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Võ Ngọc C.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Ninh.

Ngày 01 tháng 8 năm 2025, tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 4, Thành phố Hồ

Chí Minh tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 61/2025/QĐ-TA ngày 25 tháng 7 năm 2025, đối với:

Nguyễn Trung H, sinh năm 1986; thường trú: Số B khu phố T, phường Đ,

thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là số B khu phố T, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh); chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Hòa hảo; trình độ văn hoá: lớp 9/12; nghề nghiệp: Tài xế; con ông Nguyễn Phi H1 (đã chết) và bà Phạm Ngọc T (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Đình L – Cán bộ Công an phường

Đ, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền số 102/GGQ-CAP ngày 31/7/2025).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 20/7/2025, Công an phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện

Nguyễn Trung H có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 20/7/2025, Công an phường Đ với Trạm y tế phường Đ tiến hành xét nghiệm xác định tình trạng nghiện đối ma túy đối với Nguyễn Trung H, kết quả xác định H nghiện ma túy loại Ketaminne. Tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai Nguyễn Trung H thừa nhận có sử dụng ma túy, lần đầu sử dụng từ tháng 9/2024 đến nay, lần gần nhất sử dụng ma túy vào ngày 05/7/2025.

Ngày 20/7/2025, Trưởng Công an phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh ra

Quyết định số: 10/QĐ-CAP về việc quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trên cơ sở đó, ngày 20/7/2025, Công an phường Đ tiến hành lập biên bản về việc giao cho Cơ sở cai nghiện ma tuý số 4, T1 phố H quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trung H.

- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Đề nghị đưa Nguyễn Trung H vào cơ

sở cai nghiện bắt buộc để giúp H trở thành người có ích cho xã hội và góp phần đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương. Thời gian áp dụng cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trung H là từ 16 tháng đến 20 tháng.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ

Chí Minh: Trong quá trình thụ lý hồ sơ, chuẩn bị mở phiên họp và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, Cơ quan đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Căn cứ các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ, lời khai của Nguyễn trung H về việc sử dụng ma túy. Đề nghị phiên họp chấp nhận quan điểm đưa Nguyễn Trung H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Ý kiến của người bị đề nghị: Thống nhất về việc đưa vào cơ sở cai nghiện

bắt buộc, đề nghị Tòa án áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc thấp nhất.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng

biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát và ý kiến của người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

- Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Hồ sơ đề nghị của Trưởng Công an

phường Đ lập đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trung H. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; điểm a khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Bộ C1 - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý xem xét là đúng thẩm quyền.

- Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với

Nguyễn Trung H lập ngày 20/7/2025 do H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, ngày 24/7/2025, Tòa thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính.

- Về nơi cư trú: Theo hồ sơ cũng như lời trình bày tại phiên họp của Nguyễn

Trung H, thể hiện T2 có đăng ký thường trú tại số B khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là số B khu phố T, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng không sinh sống; tại phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh xác định H không có nơi cư trú ổn định.

- Về nội dung xem xét: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và lời khai

của Nguyễn Trung H thể hiện H là người nghiện ma túy từ tháng 4/2025 đến nay, loại ma túy sử dụng là Ketamine nhưng không có nơi cư trú ổn định. Như vậy, Nguyễn Trung H là đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định quy định tại điểm b khoản 1 Điều 27 của Luật Phòng, chống ma túy và khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Bản thân Nguyễn Trung H là người đã thành niên biết tác hại của ma túy

nhưng vẫn sử dụng. Việc làm này là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, nhất là trong tình hình hiện nay hành vi tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tệ nạn nghiện ma túy xảy ra nhiều có diễn biến phức tạp. Do vậy, việc Trưởng Công an phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét đưa H đi cai nghiện bắt buộc là cần thiết, đúng pháp luật. Tuy nhiên cũng xem xét H có những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân như sau:

Tình tiết tăng nặng: không.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc Nguyễn Trung H đã tự nguyện khai

báo, thành thật hối lỗi, tình tiết trên được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Từ những phân tích trên xét thấy việc đưa Nguyễn Trung H vào cơ sở cai

nghiện bắt buộc là cần thiết.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố

Hồ Chí Minh và Công an phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc đưa Nguyễn Trung H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Nguyễn Trung H.

Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trung H là Cơ sở cai nghiện ma

túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Ấp G, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (mười sáu) tháng,

kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Công an phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kiến nghị; Viện

kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị; người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định trong hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh

và Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ