- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu tuyên bố công dân mất tích của ông N.L.V
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Y THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 58/2020/QĐST-DS | Quận Y, ngày 19 tháng 6 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Y THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Tô Thanh Sang
Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Hiên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Y Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 48/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2019 về “ Yêu cầu tuyên bố một người mất tích" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2020/QĐMPH-DS ngày 08 tháng 6 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông N.L.V, sinh năm 1983
Địa chỉ: B.H, Phường D, Quận Y, TP.HCM
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Em N.T.L, sinh năm 2009;
2/ Em N.Q.H, sinh năm 2013.
- Người đại diện theo pháp luật của em N.T.L và em N.Q.H: ông N.L.V, sinh năm
1983.
(các đương sự có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ông N.L.V có đơn yêu cầu tuyên bố bà N.T.Y.C, sinh năm 1990 – nơi cư trú cuối cùng: B.H, Phường D, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là mất tích.
Tại bản tự khai ngày 28/02/2019, ông N.L.V trình bày: Ông và bà N.T.Y.C, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: B.H, Phường D, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 2013 (giấy chứng nhận kết hôn số 34, ngày 28/02/2013 do UBND P.D, Q.Y cấp). Quá trình chung sống hai bên cũng có xảy ra mâu thuẫn nên bà N.T.Y.C đã bỏ nhà đi vào ngày 01/01/2015, gia đình, bà con thân thích không biết bà ở đâu và cũng không có thông tin gì. Từ đó đến nay ông N.L.V cố gắng tìm kiếm nhưng không có tin tức. Nay ông N.L.V yêu cầu Tòa án nhân dân Quận Y tuyên bố bà N.T.Y.C, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: B.H, Phường D, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận Y Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Ông N.L.V có đơn yêu cầu tuyên bố bà N.T.Y.C, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: B.H, Phường D, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là mất tích. Đây là việc dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người yêu cầu có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên họp đề ngày 10/6/2020. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Toà án vẫn tiến hành phiên họp.
Theo xác minh của Công an Phường D, Quận Y: “Đương sự N.T.Y.C, sinh năm 1990, có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: B.H, Phường D, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thực tế không cư ngụ tại địa chỉ trên. Hiện đương sự Chinh đi đâu không rõ, từ năm 2015 đến nay”.
Tòa án nhân dân Quận Y đã ra quyết định số 116/2019/QĐ-TA ngày 25/9/2019 cùng thông báo số 24/TAQ6 ngày 05/02/2020 về việc thông báo tìm kiếm bà N.T.Y.C, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: B.H, Phường D, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Thông báo này đã được đăng trên: báo Nhân dân là báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và phát sóng trên đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp, theo quy định tại các Điều 384, Điều 385, khoản 1, 2, 4 Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên là ngày 16/10/2019.
Như vậy, bà N.T.Y.C đã biệt tích hơn năm năm liền (tính từ năm 2015 đến nay), mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà N.T.Y.C, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: B.H, Phường D, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh còn sống hay đã chết, nên có căn cứ xác định bà N.T.Y.C hiện đã mất tích như quy định tại Khoản 1, Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Y tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông N.L.V tuyên bố bà N.T.Y.C, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: B.H, Phường D, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là mất tích.
Như vậy, Tòa án có đủ cơ sở tuyên bố bà N.T.Y.C, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: B.H, Phường D, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là mất tích theo yêu cầu của ông N.L.V.
Về lệ phí việc dân sự: Ông N.L.V chịu lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 367, 369, 370, 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68 Bộ Luật dân sự 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự:
1/ Chấp nhận yêu cầu tuyên bố công dân mất tích của ông N.L.V
Tuyên bố bà N.T.Y.C, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: B.H, Phường D, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông N.L.V phải chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2018/0010749 ngày 15/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Y. Ông N.L.V đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
+ Các đượng sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết tại địa phương.
+ Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - VKSND Q.Y; - Chi cục THADS Q.Y; - Các đương sự; - UBND Phường D, Quận Y; - Lưu: VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Tô Thanh Sang |