vanban.org

Quyết định 58/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 108/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2019 về việc “Hôn nhân và gia đình” giữa:

* Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1987; địa chỉ ấp 17, xã L, huyện L, tỉnh T. * Bị đơn: anh Đỗ Văn M, sinh năm 1987; hộ khẩu thường trú số 195/BBa ấp B, xã B, huyện B, tỉnh B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 108/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2019 về việc “Hôn nhân và gia đình” giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B -TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 58/2019/QĐST-HNGĐB, ngày 12 tháng 6 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

Căn cứ vào các điều 48, 217, 218, 219, khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã thụ lý số 108/2019/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2019 về việc “Hôn nhân và gia đình”;

Xét thấy: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H ghi địa chỉ của bị đơn anh Đỗ Văn M là tại số nhà 195 ấp B, xã B, huyện B, tỉnh B. Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được Thông báo về việc thụ lý vụ án do anh M không còn cư trú tại địa chỉ trên. Tòa án đã tống đạt Thông báo yêu cầu chị H cung cấp địa chỉ mới của anh M nhưng chị H không cung cấp được. Qua xác M tại UBND xã B vào ngày 18/4/2019, tại Công an xã B vào các ngày 18/4/2019, 11/6/2019 đều xác nhận không rõ địa chỉ hiện nay của anh M. Trong khi đó, qua xác M với cha mẹ của anh M là ông bà Đỗ Văn B và Nguyễn Thị P (là những người cùng hộ khẩu với anh M tại số nhà 195 ấp B, xã B, huyện B, tỉnh B) vào các ngày 27/3/2019, 18/4/2019 và 11/6/2019, ông B và bà P đều xác định từ khoảng năm 2012, anh M đã đi khỏi địa phương, lần gần nhất anh M về nhà là vào dịp Tết nguyên đán (tháng 2/2019 dương lịch) nhưng chỉ trong khoảng thời gian vài tiếng đồng đồ, sau đó bỏ đi cho đến nay. Từ đó đến nay, gia đình không liên lạc được, cũng không rõ anh M hiện nay đang ở đâu và không thể giao lại cho anh M các văn bản tố tụng của Tòa án.

Qua đó xét thấy, việc chị H không cung cấp được địa chỉ mới của anh M là thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự (theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017).

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 108/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2019 về việc “Hôn nhân và gia đình” giữa:

* Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1987; địa chỉ ấp 17, xã L, huyện L, tỉnh T.

* Bị đơn: anh Đỗ Văn M, sinh năm 1987; hộ khẩu thường trú số 195/BBa ấp B, xã B, huyện B, tỉnh B.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

- Người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001818 ngày 15 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh B.

3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận quyết định các đương sự có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ