- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "QĐGQVDS Hà Văn T.pdf"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Hà Văn T1 về việc yêu cầu tuyên bố ông Hà Văn T, sinh năm 19xx đã mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TH NH PH C T N TỈNH C T N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 58/2018/QĐST - DS | Sóc Trăng, ngày 28 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Ơ THẨM IẢI QUYẾT VIỆC DÂN Ự
V/v: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”
TÒA ÁN NHÂN DÂN TH NH PH
C T N , TỈNH C T N
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ
Thư ký phiên họp: Ông Đoàn Phước Đạt là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên họp: Bà Phạm Thúy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 39/2018/TLST-VDS ngày 12 tháng 6 năm 2018 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 260/2018/QĐST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Hà Văn T1, sinh năm 19xx (có mặt).
Địa chỉ: Số A tổ 6 khu vực 4, phường AB, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Hà Văn T2, sinh năm 19xx (có mặt)
2. Ông Hà Văn T3, sinh năm 19xx (có mặt)
3. Bà Hà Kim T4, sinh năm 19xx (có mặt)
Cùng địa chỉ: Số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUN VIỆC DÂN Ự
Cha và mẹ ruột của ông Hà Văn T1, ông Hà Văn T2, ông Hà Văn T3 và bà Hà Kim T4 là ông Hà Văn T, sinh năm 19xx và bà Néang Kim Q, sinh năm 19xx. Trước đây gia đình ông bà cùng cư trú tại số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thị xã Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang. Nay là số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Mẹ của ông, bà là bà Néang Kim Q đã chết vào ngày 29 tháng 4 năm 2018, còn ông T đã bỏ nhà đi làm ăn xa từ năm 1984 cho đến nay. Gia đình đã dùng nhiều biện pháp thông báo tìm kiếm ông Hà Văn T nhưng không có kết quả. Hiện nay gia đình của ông T1 cũng không biết ông T làm gì, ở đâu và không có tin tức về ông T.
Nay ông Hà Văn T1 yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố ông Hà Văn T, sinh năm 1945, nơi cư trú cuối cùng: Số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thị xã Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang. Nay là số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã mất tích.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là: Ông Hà Văn T1, ông Hà Văn T2 và bà Hà Kim T3 đều thống nhất với lời trình bày của người yêu cầu Hà Văn T và đều yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố ông Hà Văn T, sinh năm 1945, nơi cư trú cuối cùng: Số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thị xã Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang. Nay là số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã mất tích.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng: Việc Tòa án thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền. Từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp giải quyết việc dân sự Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên họp đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu ông Hà Văn T về việc yêu cầu ông Hà Văn T mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ Luật Tố tụng dân sự; ông Hà Văn T, sinh năm 1945, nơi cư trú cuối cùng tai số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thị xã Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang. Nay là số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng thụ lý, giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền.
Về nội dung: Xét yêu cầu của ông Hà Văn T về việc yêu cầu tuyên bố ông Hà Văn T, sinh năm 1945, nơi cư trú cuối cùng: Số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thị xã Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang. Nay là số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã mất tích, thấy rằng: Ông Hà Văn T, sinh năm 1945 và bà Néang Kim Q, sinh năm 1948 (bà Q đã chết vào ngày 29 tháng 4 năm 2018) trong quá trình chung sống ông, bà có 04 người con chung là ông Hà Văn T2, sinh năm 19xx, ông Hà Văn T3, sinh năm 19xx, ông Hà Văn T4, sinh năm 19xx và bà Hà Kim T5, sinh năm 19xx. Theo những người con của ông T đều trình bày ông Hà Văn T là cha ruột của ông, bà. Vào năm 1984 (ngày tháng cụ thể ông, bà không nhớ) do hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp khó khăn, vì vậy ông T đã bỏ nhà đi làm ăn xa, nhưng từ đó đến nay ông T không có về nhà, gia đình đã tìm mọi biện pháp để tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức, không biết được ông T hiện đang làm gì và ở đâu.
Theo xác nhận của địa phương thì ông T đã vắng mặt tại địa phương từ cuối năm 2000 cho đến nay, xét thấy thời gian ông T bỏ địa phương đi đã hơn 02 năm và trong thời gian giải quyết việc dân sự Tòa án cũng có ban hành Quyết định số 824/QĐTB-TA ngày 28 tháng 6 năm 2018 về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Hà Văn T, Quyết định này cũng đã được đăng trên báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng, phát sóng trên Đài truyền hình của Trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp và đã hết thời hạn thông báo mà vẫn không có tin tức xác thực về việc ông T còn sống hay đã chết.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích ...”. Như vậy, ông Hà Văn T1 yêu cầu tuyên bố ông Hà Văn T2 mất tích là có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu ông Hà Văn T1 là có căn cứ, nên được chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Tâm phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Hà Văn T1 về việc yêu cầu tuyên bố ông Hà Văn T, sinh năm 19xx đã mất tích.
2. Tuyên bố: Ông Hà Văn T, sinh năm 19xx, nơi cư trú cuối cùng tại: Số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thị xã Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang. Nay là số B đường THĐ, khóm B2, phường B3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã mất tích.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Ông Hà Văn T1 phải chịu là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm ông T1 đã nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001821 ngày 07/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng. Ông T1 đã nộp xong lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
4. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND TPST; - Chi cục THADS TPST; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND phường B2, TPST; - Lưu hồ sơ vụ việc. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Thị Kim Huệ |