vanban.org

Quyết định 57/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Phương T.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Phạm Phương T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Phương T.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 57 /QĐ-TATháp Mười, ngày 09 tháng 10 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Mai.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngọc Diệu.

Ngày 09 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, Đồng Tháp tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số 65/TB-TLHS ngày 03 tháng 10 năm 2017 đối với:

Họ và tên: Phạm Phương T.

Sinh năm: 1993;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 10/12;

Hộ khẩu thường trú: Ấp 5, xã K, huyện M, Đồng Tháp;

Chỗ ở hiện tại: Ấp 5, xã K, huyện M, Đồng Tháp;

Nghề nghiệp: Buôn bán;

Tiền án: Không có; tiền sự: Không có.

Con ông: Phạm Văn T và bà: Lê Kim T.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan, chức vụ: Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Tháp Mười.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn Tùng, chức vụ: Phó Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Tháp Mười.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười: Bà Lê Thị Ngọc Lợi – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Qua xác minh được biết anh Phạm Phương T đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp 5, xã K, huyện M, Đồng Tháp.

Ngày 27/3/2017, Công an huyện M mời anh Phạm Phương T về cơ quan tiến hành thử test nhanh chất ma túy trong nước tiểu, kết quả nước tiểu của anh T dương tính với chất ma túy. Đồng thời, tiến hành ghi lời khai thì anh T thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy (ma túy đá) vào khoảng 20 giờ, ngày 27/3/2017 cùng với L tại nhà anh bà con của L thuộc xã B, huyện B, Tiền Giang.

Ngày 15/4/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K đã ra Quyết định số 02/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại Xã đối với anh Tthời hạn là 03 tháng kể từ ngày 15/4/2017.

Đến ngày 16/7/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Xã đã ra Giấy chứng nhận số 02/GCN-UBND về việc chấp hành xong biện pháp giáo dục tại Xã đối với anh T.

Ngày 12/9/2017, Công an huyện M mời anh T về làm việc và kết hợp với Trung tâm Y tế huyện M tiến hành thử test nhanh chất ma túy trong nưới tiểu của anh T, kết quả trong nước tiểu của anh T dương tính với chất ma túy. Đồng thời, tiến hành ghi lời khai anh T, thì anh T thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy vào lúc 17 giờ, ngày 12/9/2017 cùng với T tại nhà khu dân cư ấp 3, xã K, huyện M, Đồng Tháp. Công an huyện M tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Cùng ngày 12/9/2017, Công an huyện M có đề nghị số 80/ĐN-CAH về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của anh T. Trung tâm Y tế huyện M có phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy, anh T có (còn) nghiện ma túy, ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine (ATS).

Ngày 27/9/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K ban hành Quyết định số 03/QĐ-UBND về việc giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào Cở sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 28/9/2017, Ủy ban nhân dân xã K đề nghị Phòng Tư pháp huyện M kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cở sở cai nghiện bắt buộc đối Phạm Phương T.

Phòng Tư pháp huyện M có ý kiến hồ sơ đảm bảo tính pháp lý quy định tại Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/12/2016 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số Điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 03/10/2017, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện M có văn bản đề nghị số 196/LĐTBXH, về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện M xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Phương T, thời gian điều trị nghiện từ 12 đến 16 tháng. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở điều trị nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện M trình bày với hành vi nêu trên của anh T đã đủ cơ sở và điều kiện để đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với anh T đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 đến 16 tháng. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở điều trị cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ việc, lời trình bày và ý kiến của những người tham dự phiên họp, xét thấy:

Qua nghiên cứu hồ sơ, xét thấy trình tự, thủ tục Cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng với quy định tại Điều 95, Điều 96, điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Cở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Cở cai nghiện bắt buộc.

Xét về hành vi: Theo bản tự khai, biên bản ghi lời khai đề ngày 12/9/2017, anh T thừa nhận sử dụng trái phép chất ma túy. Và Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm Y tế huyện M cũng đã xác định anh T có nghiện ma túy, ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine (AST). Anh T là người sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã K theo Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 15/4/2017 với thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 15/4/2017 đến ngày 15/7/2017. Đến ngày 16/7/2017, Ủy ban nhân dân Xã đã ra Giấy chứng nhận số 02/GCN-UBND về việc chấp hành xong biện pháp giáo dục tại Xã đối với anh T.

Ngày 12/9/2017, Công an huyện M mời anh T về làm việc và kết hợp với Trung tâm Y tế huyện Tháp Mười tiến hành thử test nhanh chất ma túy trong nước tiểu của anh T, kết quả trong nước tiểu của anh T dương tính với chất ma túy. Đồng thời, tiến hành ghi lời khai anh T, thì anh T thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy vào lúc 17 giờ, ngày 12/9/2017 cùng với T tại nhà khu dân cư ấp 3, xã K, huyện M, Đồng Tháp.

Xét thấy, việc sử dụng trái phép chất ma túy của anh T như trên là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, là gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Theo kết quả xét nghiệm của Trung tâm Y tế huyện M thì anh T nghiện chất ma túy, ma túy tổng hợp dạng chất Amphetamine (AST). Chúng ta điều biết ma túy là loại độc tố nếu sử dụng sẽ bị ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ và hạnh phúc gia đình. Đồng thời, cũng là nguồn phát sinh nhiều loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật tài sản, giết người cướp của,.. Anh T nhận thức được tác hại của chất ma túy nhưng vẫn lao vào con đường nghiện. Mặc khác, anh T là người từng sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng khi hết thời gian chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã K thì anh T vẫn không có ý thức tự cai nghiện tại cộng đồng và sửa đổi để trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục có hành vi vi phạm tương tự và vẫn đang còn nghiện ma túy.

Từ những hành vi trên, xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với anh T vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết, cần phải có thời gian tập trung

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Không có.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M phát biểu ý kiến về việc xây dựng hồ sơ, Thẩm phán đã tuân theo pháp luật là phù hợp theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nên chấp nhận.

Căn cứ các Điều 95, Điều 96, điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, đề nghị của Trưởng phòng Lao động Thương bình và Xã hội huyện Tháp Mười là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Phương T.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp.

3. Anh Phạm Phương T có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc niêm yết quyết định, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Tháp Mười có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Tháp Mười và Công an huyện Tháp Mười.

Cỡ chữ