vanban.org

Quyết định 57/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 29/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S, Nguyễn Đắc Nphạm tội “Đánh bạc”.

Tuyên xử về hình phạt: 1.Xử phạt Phạm Văn S 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S, Nguyễn Đắc Nphạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2019/HS-ST
Ngày 29-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tuấn Bà Hoàng Thị Thu Lâm Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Chi- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2019/TLST- HS ngày 18-11-2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2019/QĐXXST-HS ngày 18-11-2019 đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn S; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07 tháng 5 năm 1990; Giới tính: Nam; Quê quán: phường K1, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường K1, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông Phạm Văn Th, sinh năm: 1964; con bà: Trần Thị Ph, sinh năm:1965, hiện làm nghề lao động tự do và trú quán tại phường K1, thị xã Kỳ Anh,tỉnh Hà Tĩnh; Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Võ Thị Ngọc B, sinh năm 1992; Nghề nghiệp: Công nhân; Con: Có 03 đứa, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 22/5/2019 bị Công an thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bịáp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 14/10/2019 đến nay. (Có mặt)

2. Nguyễn Đắc N; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 5 năm 1990; Giới tính: Nam; Quê quán: xã C, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông Nguyễn Đắc H, sinh năm: 1958; con bà: Trần Thị Th,sinh năm:1960, hiện làm ruộng và trú quán tại xã C, huyện Cẩm Xuyên,tỉnh Hà Tĩnh; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 15/5/2019 bị Công an thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 14/10/2019 đến nay. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Văn Q; sinh năm: 1986; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường K, thị xã Kỳ Anh,tỉnh Hà Tĩnh(vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Xuân H; sinh năm: 1985; địa chỉ: Thôn L, xã Th ,huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 20-9-2019, sau khi tan ca làm việc, Phạm Văn S rủ Nguyễn Đắc N, Nguyễn Xuân H và Lê Văn Q đến phòng điện của xưởng Thiêu kết, bộ phận luyện gang của Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh, thuộc thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để đánh bạc thì cả ba người đồng ý. Khi vào phòng, Phạm Văn S, Nguyễn Đắc N và Nguyễn Xuân H ngồi giữa nền nhà và Lê Văn Q lấy một bộ bài Tú lơ khơ để đánh bạc dưới hình thức đánh “Phỏm”. Cách thức đánh như sau: Một bộ bài Tú lơ khơ 52 quân, được chia thành 04 phần, mỗi phần 09 quân, người đánh đầu tiên được chia 10 quân bài. Sau khi lần lượt bốc hết số quân bài đặt giữa chiếu, nếu có 03 quân bài có cùng số hoặc cùng chữ, hoặc có 03 quân bài có các số hoặc chữ liền kề, cùng chất được gọi là “Phỏm” và được hạ xuống, số còn lại trên tay tính điểm. Người có ba “Phỏm” đã hạ xuống thì gọi là “Ù”, nếu không “Ù” thì tính điểm. Người có bài “Ù” hoặc ít điểm nhất thì ăn của ba người còn lại, mỗi người 10.000 đồng. Đến 22 giờ cùng ngày, trong khi Phạm Văn S, Nguyễn Đắc N, Nguyễn Xuân H và Lê Văn Q đang đánh bạc thì bị Tổ tuần tra Công an thị xã Kỳ Anh bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc một bộ bài Tú lơ khơ và 1.130.000 đồng tiền mặt.

Số tiền các đối tượng đã dùng vào việc đánh bạc là 1.130.000 đồng, trong đó Phạm Văn S: 280.000 đồng, Nguyễn Đắc N: 320.000 đồng, Nguyễn Xuân H: 230.000 đồng và Lê Văn Q: 300.000 đồng. Tang vật thu giữ của các đối tượng gồm: Một bộ bài Tú lơ khơ 52 quân bài và 1.130.000 đồng tiền mặt.

Tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKSTXKA ngày 15 tháng 11 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố các bị cáo Phạm Văn S, Nguyễn Đắc N về tội Đánh bạc,theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bốcác bị cáoPhạm Văn S, Nguyễn Đắc N phạm tội “Đánh bạc”; Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt Phạm Văn S mức án từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án; Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Đắc N mức án từ 06 đến 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 14 tháng tính từ ngày tuyên án; Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 1.130.000 đồng, tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng; Về án phí: Đề nghị xử buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện cải tạo và sữa chữa bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thị xã Kỳ Anh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa và vụ liên quan,không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục luật định, đều hợp pháp.

. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy có đủ cơ sở kết luận:Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại phòng điện của xưởng Thiêu kết bộ phận luyện gang của Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh, ở thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Phạm Văn S và Nguyễn Đắc N (đang có tiền sự về hành vi đánh bạc) đã tham gia đánh bạc với Nguyễn Xuân H và Lê Văn Q, được thua bằng tiền, dưới hình thức đánh “Phỏm”, với mức đánh mỗi ván là 10.000 đồng. Đến 22 giờ cùng ngày, trong khi Phạm Văn S, Nguyễn Đắc N, Nguyễn Xuân H và Lê Văn Q đang đánh bạc thì bị Tổ tuần tra Công an thị xã Kỳ Anh bắt quả tang, thu giữ 01 bộ bài Tú lơ khơ và 1.130.000 đồng tiền mặt. Qus trình điều tra xác định tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 1.130.000 đồng, trong đó Phạm Văn S: 280.000 đồng, Nguyễn Đắc N: 320.000 đồng, Nguyễn Xuân H: 230.000 đồng và Lê Văn Q: 300.000 đồng.

. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; bởi lẽ hành vi đánh bạc trái phép là một trong những tệ nạn xã hội mà Nhà nước nghiêm cấm, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm rạn nứt, ảnh hưởng đến cuộc sống hạnh phúc của nhiều gia đình, là nguyên nhân dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác, đồng thời gây tâm lý bất an, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Mặc dù số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng trước đó các bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định hành vi của Phạm Văn S, Nguyễn Đắc N đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh.

. Về tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo: Các bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, chưa chấp hành xong thời hạn lẽ ra các bị cáo phải nhận thức được tác hại của hành vi vi phạm pháp luật của mình, sự nghiêm khắc của pháp luật, lấy đó làm bài học cho mình để tu chí làm ăn, ăn năn hối cải. Nhưng để thỏa mãn thú tiêu khiển cá nhân, các bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi sát phạt nhau trên chiếu bạc, kích thích lòng tham và lối sống lười lao động, bất chấp hậu quả xãy ra, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó, việc xử lý bằng biện pháp chế tài hình sự đối với các bị cáo là cần thiết, tạo điều kiện cho các bị cáo được giáo dục, học tập và phấn đấu để trở thành người tốt hơn, biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.

Đối với Nguyễn Xuân H, Lê Văn Qcó hành vi đánh bạc cùng các bị cáo, nhưng do số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và chưa có tiền án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự, nên Cơ quan Công an thị xã Kỳ Anh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Xuân H và Lê Văn Q về hành vi đánh bạc trái phép là đúng quy định pháp luật nên chỉ đưa vào tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan..

Đây là một vụ án đồng phạm đơn giản, các bị cáo cùng rủ rê, lôi kéo nhau tham gia đánh bạc, trong đó Phạm Văn S vừa là người khởi xướng vừa là thực hành nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Nguyễn Đắc N vối vai trò đồng thực hành,

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trên được quy định tại điểm s,i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Xét hành vi, tính chất mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Đắc N là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình,có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, áp dụng thêm hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo cũng đủ nghiêm. Đối với bị cáo Phạm Văn S tuy là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng bị cáo là người đứng ở vị trí, vai trò đầu vụ, người khởi xướng thực hiện hành vi đánh bạc nên cần phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là đủ nghiêm

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định, đang phải đi làm phụ hồ, thu nhập thấp, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo Phạm Văn S hiện đang nuôi 03 con nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

. Về vật chứng:

- Xét vật chứng 01( Một) bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 quân bài,đã qua sử dụng. Đây là vật chứng mà các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy.

- Xét vật chứng là 1.130.000 đồng tiền ngân hàng Việt nam đồng đang lưu hành. Đây là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên căn cứđiểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

. Về án phí và quyền kháng cáo:Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật

Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứkhoản 1Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn S;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1Điều 51; Điều 17, Điều 65, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm đối với bị cáo Nguyễn Đắc N

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S, Nguyễn Đắc Nphạm tội “Đánh bạc”.

2.Tuyên xử về hình phạt:

2.1.Xử phạt Phạm Văn S 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2.2. Xử phạt Nguyễn Đắc N06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Đắc N cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách được thực hiện theo quy định tại điều 69 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

3. Về vật chứng:

3.1.Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc 1.130.000 đồng( một triệu, một trăm ba mươi ngàn đồng)

3.2.Tịch thu tiêu hủy 01(bộ bài) tú lơ khơ gồm 52 quân bài,đã qua sử dụng;

(Tình trạng các vật chứng trên có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-11-2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Kỳ Anh)

4. Về án phí:

Buộc bị cáo Phạm Văn S, Nguyễn Đắc Nmỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) ánphí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ