vanban.org

Quyết định 56/2024/QĐ-TA

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/03/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1976 tại Cơ sở Cai nghiện ma túy V.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng. Thời hạn chấp hành quyết định này được tính từ ngày ông T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1976 tại Cơ sở Cai nghiện ma túy V.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 56/2024/QĐ-TAQuận 7, ngày 18 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Đỗ Khắc Dương

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Ông Nguyễn Công Định - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 18 tháng 3 năm 2024, tại Phòng họp Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 38/2024/QĐ-TA ngày 04 tháng 3 năm 2024 và Thông báo về việc hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 37/TB-TLHS ngày 11 tháng 3 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Tấn T

Giới tính: Nam.

Sinh ngày 25 tháng 6 năm 1976.

Căn cước công dân số: …; này cấp: ../…/202…; nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHCTTXH.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Phật.

Trình độ văn hóa: 8/12.

Nghề nghiệp: Không.

Địa chỉ thường trú: Căn hộ A chung cư T, đường L, phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở hiện nay: Như trên.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có.

Con ông Nguyễn Tấn L và bà Nguyễn Thị T.

Ông Thảo vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Cao Minh H – Chức vụ: Chuyên viên phòng Lao động – Thương binh, xã hội Quận 7 (Có mặt).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Đình K - Kiểm sát viên (Có mặt).

NHẬN THẤY:

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 có văn bản đề nghị số 281/LĐTBXH-ĐNCNBB ngày 28/02/2024, đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Tấn T do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

Ngày 07/11/2023 Ủy ban nhân dân phường Q, Quận G ra Quyết định số 292/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với đương sự Nguyễn Tấn T.

Trong thời gian bị quản lý, tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 05/01/2024 Công an phường Q, Quận G cho xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với ông T, kết quả dương tính ma túy tổng hợp nên bị Công an phường Q lập biên bản vi phạm hành chính làm cơ sở xử lý hình thức cai nghiện bắt buộc.

Công an phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xác minh tình trạng cư trú tại địa chỉ: Căn hộ A chung cư T, đường L, phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả là ông T có hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại địa chỉ trên.

Ngày 08/01/2024 Công an phường Q, Quận G có văn bản đề nghị Trạm y tế phường H, Quận G xác định tình trạng nghiện ma túy của đương sự T. Ngày 11/01/2024 Trạm y tế phường H, Quận G có phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, kết luận ông T nghiện ma túy loại Methamphetamine (MET).

Ngày 11/01/2024 Ủy ban nhân dân phường Q, Quận G ra Quyết định số 17/QĐ-UBND dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với đương sự T.

Ngày 12/01/2024, Công an phường Q tiến hành bàn giao kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy và hướng dẫn đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng ông T không đồng ý cai nghiện tự nguyện.

Ngày 12/01/2024, Ủy ban nhân dân phường Q lập biên bản vi phạm về cai nghiện tự nguyện, quản lý sau cai nghiện và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Ngày 12/01/2024 Ủy ban nhân dân phường Q, Quận G ra Quyết định số 18/QĐ-QLNN-UBND về việc giao cho gia đình quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc.

Ngày 02/01/2024, Công an phường Q có thông báo số 02/TB-CAP về việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T.

* Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 có ý kiến: ông Nguyễn Tấn T nghiện ma túy tổng hợp, vi phạm về cai nghiện tự nguyện, quản lý sau cai nghiện và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Do đó, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T tại Cơ sở Cai nghiện ma túy V; địa chỉ: xã V, huyện M, tỉnh Bình Phước; thời hạn từ 15 tháng đến 18 tháng.

- Ông T vắng mặt nhưng có bản tường trình xác nhận có sử dụng ma túy đá bằng hình thức hút, sử dụng vào khoảng tháng 9/2023.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính:

Quá trình thụ lý, giải quyết hồ sơ và tại phiên họp Tòa án nhân dân Quận 7, Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Tấn T được lập theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân Quận 7 chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 7 và đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng.

XÉT THẤY:

Người bị đề nghị là ông Nguyễn Tấn T vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ vào khoản 2 Điều 20 của Pháp lệnh số 03/2014/UBTVQH13 ngày 13/12/2023 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Tòa án nhân dân Quận 7 tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt ông T là đúng quy định.

Tại Biên bản vi phạm hành chính số 0035235/BB-VPHC do Công an phường Q, Quận G lập ngày 05/01/2024, thể hiện ông T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và có xác nhận của ông T.

Ông T có bản tường trình xác nhận ông có sử dụng ma túy đá bằng hình thức hút, sử dụng vào khoảng tháng 9/2023.

Ngày 07/11/2023 Ủy ban nhân dân phường Q, Quận G ra Quyết định số 292/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với đương sự T. Trong thời gian bị quản lý, ông T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 05/01/2024 Công an phường Q, Quận G cho xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với ông T, kết quả dương tính ma túy tổng hợp MET nên bị Công an phường Q lập biên bản vi phạm hành chính.

Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 11/01/2024 của Trạm y tế phường H, Quận G kết luận ông T nghiện ma túy loại Mathamphetamine (MET).

Tại Biên bản vi phạm số 02/BB-VPHC-CAP ngày 12/01/2024 của Công an phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, xác định ông T đã có hành vi vi phạm không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo điểm a, khoản 1, Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện và vi phạm khoản 1, khoản 3 Điều 32 của Luật Phòng chống ma túy. Do đó, ông T thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Công an phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xác minh tình trạng cư trú tại địa chỉ: Căn hộ A chung cư T, đường L, phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả là ông T có hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại địa chỉ trên.

Như vậy, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T được Công an phường Q, Quận G; Ủy ban nhân dân phường Q, Quận G và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 lập đúng và đầy đủ theo trình tự do pháp luật quy định. Do đó, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 là có cơ sở.

Xét thấy, ông T biết rõ ma túy là chất độc hại và sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng. Hành vi của ông T đã xâm phạm đến chủ trương chính sách của Nhà nước về bài trừ tệ nạn ma túy và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư. Như vậy, có cơ sở xác định ông T nghiện ma túy loại Methamphetamine và thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 103 và Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 40, 41, 42 và 43 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 về thời hiệu lập hồ sơ, đối tượng áp dụng, thẩm quyền lập hồ sơ, trình tự thủ tục lập hồ sơ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1976 tại Cơ sở Cai nghiện ma túy V.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng.

Thời hạn chấp hành quyết định này được tính từ ngày ông T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

- Ông T được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định này.

- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 được quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 được quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở Cai nghiện ma túy V có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ