- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh Th, chị M"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Th và chị Nguyễn Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 55/2019/QĐST-HNGĐ | Hưng Hà, ngày 17 tháng 4 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 72/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2019, giữa:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1978
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1985 Đều ở địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83 và Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 09 tháng 4 năm 2019,
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 09 tháng 4 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Th và chị Nguyễn Thị M.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Văn Th trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Xuân N, sinh ngày 12/9/2009. Chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Xuân L, sinh ngày 11/6/2007. Anh Th và chị M không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung.
- Về quan hệ tài sản: Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự như sau:
+ Anh Nguyễn Văn Th được quyền sở hữu 01 (Một) Ngôi nhà mái bằng một tầng, tường xây 20 bằng gạch đỏ (đã trát tường nhưng chưa ốp lát), không khung cột, diện tích xây dựng theo mặt mái là 65m2, xây dựng năm 2014 cùng công trình phụ, được xây dựng trên diện tích đất 529,5m2 tại thửa số 295, tờ bản đồ 04, thôn Hg, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Anh Th và chị M xác định diện tích đất 529,5m2 vẫn thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị K là bố mẹ đẻ anh Nguyễn Văn Th. Anh Th, chị M không có tranh chấp và không yêu cầu phân chia giải quyết về diện tích đất này.
+ Anh Nguyễn Văn Th có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch tài sản cho chị Nguyễn Thị M số tiền là: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng chẵn).
+ Chị Nguyễn Thị M đã nhận đủ số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng chẵn) do anh Nguyễn Văn Th thanh toán giá trị chênh lệch tài sản.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn Th nhận chịu cả 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh Th đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005517 ngày 15/3/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình được chuyển 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) thành tiền án phí và hoàn trả anh Th 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Hưng Hà; - Chi cục THA dân sự H.Hưng Hà; - UBND xã H, H.Hưng Hà; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN NGUYỄN THẾ HÙNG |