- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "QĐ công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thoả thuận của các đương sự giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lâm Anh S.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 55/2018/QĐST - HNGĐ | Tuyên Hóa, ngày 12 tháng 10 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào hồ sơ vụ án thụ lý số 73/2018/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2018, giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1987
Địa chỉ: Thôn Q, xã L, huyện H, tỉnh Quảng Bình.
Bị đơn: Anh Lâm Anh S, sinh năm: 1977
Địa chỉ: Thôn Q, xã L, huyện H, tỉnh Quảng Bình.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 04/10/2018.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 04/10/2018 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lâm Anh S.
2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Lâm Anh S thuận tình ly hôn vì tình cảm vợ chồng thực sự không còn nữa, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Lâm Anh S thừa nhận vợ chồng có một đứa con chung là Lâm Ánh N, sinh ngày: 16/9/2011. Hai bên nhất trí tự nguyện thỏa thuận sẽ giao con Lâm Ánh N cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh Lâm Anh S có trách nhiệm và nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi, thời gian tính từ tháng 11 năm 2018.
Chị Nguyễn Thị H không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung của anh Lâm Anh S, khi cần thiết vì lợi ích của con thì anh S có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Lâm Anh S tự nguyện thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ: Chị Nguyễn Thị H và anh Lâm Anh S thừa nhận vợ chồng có vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Tuyên Hóa số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Hai bên tự nguyện thỏa thuận số tiền vay này anh Lâm Anh S sẽ có trách nhiệm và nghĩa vụ trả toàn bộ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng vay vốn với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Tuyên Hóa.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa theo biên lai số: 0003655 ngày 30/8/2018 nay thuận chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) và được nhận lại 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa.
Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Lâm Anh S phải chịu 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng). Chị Nguyễn Thị H và anh Lâm Anh S tự nguyện thỏa thuận số tiền án phí còn lại 150.000đồng mà chị H được nhận lại sẽ được khấu trừ vào khoản tiền án phí cấp dưỡng nuôi con mà anh Lâm Anh S phải chịu.
Như vậy hai bên đã nộp đủ các khoản án phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh QB; - VKS Tuyên Hoá; - Chi cục THADS Tuyên Hoá; - Các đương sự; - UBND xã Lê Hóa; - Lưu HSTA. | THẨM PHÁN Trần Thanh Dần |