- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị M chấm dứt việc nuôi con với anh Nguyễn Hữu T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị M về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh Nguyễn Hữu T. Cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 25 Luật Nuôi con nuôi; Điều 27 Luật Nuôi con nuôi
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 546/2020/QĐST-HNGĐ | Chương Mỹ, ngày 14 tháng 12 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Việt Hưng
- Thư ký phiên họp: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Triệu Thị Hồng - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân và gia đình thụ lý số 523/2020/TLST-HNGĐ ngày 16/11/2020 về việc“Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2020/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đặng Thị M, sinh ngày 19/6/1965. Nơi cư trú: Tổ 2, khu t, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội. Xin vắng mặt tại phiên họp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Hữu T, sinh ngày 18/01/1995. Nơi cư trú khi có đơn yêu cầu: Tổ 2, khu T, thị trấn X, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú hiện nay: Tiểu khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh H. Xin vắng mặt tại phiên họp.
2. Ông Nguyễn Hữu T, sinh ngày 30/3/1966. Nơi cư trú: Thôn 1, xã T, huyện Q, thành phố H. Xin vắng mặt tại phiên họp.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Theo đơn yêu cầu, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của người yêu cầu thể hiện: Vợ chồng bà Đặng Thị M, ông Nguyễn Hữu T kết hôn với nhau từ năm 1991, nhưng không có con. Vì vậy, năm 1997 khi thấy cháu Xiêng Xi M - Khăm Pu L, lúc đó 02 tuổi, có cha mẹ đẻ đều đã chết nên vợ chồng bà Đặng Thị M, ông Nguyễn Hữu T xin nhận làm con nuôi và đăng ký khai sinh đổi tên thành Nguyễn Hữu T. Việc nhận anh Nguyễn Hữu T làm con nuôi được sự đồng ý của gia đình bên ngoại anh T và có làm thủ tục đăng ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh H ngày 27/10/1997. Vợ chồng bà M, ông T đã nuôi dạy anh T khôn lớn. Nhưng anh T có tính ham chơi, không chịu nghe lời bố mẹ, không tu chí làm ăn. Do bất lực trong việc dạy bảo anh T nên năm 2018, ông T chán trường đã ly hôn bà M, để bà M một mình nuôi dạy anh T. Ngày 26/3/2020, anh T tuyên bố cắt đứt quan hệ mẹ con với bà M và bỏ về nhà bà ngoại ở. Ngày 15/6/2020, anh T dọn hết đồ dùng cá nhân chuyển về nhà bà ngoại ở hẳn từ đó đến nay, không quay về nhà bà M, không quan tâm đến bà M nữa. Nay bà M thấy tình cảm mẹ, con không còn nên yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
- Ông Nguyễn Hữu T và anh Nguyễn Hữu T cũng đều tự nguyện nhất trí chấm dứt việc nuôi con nuôi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết, Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ và các đương sự đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều 25, Điều 27 Luật Nuôi con nuôi, chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị M, tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Đặng Thị M, ông Nguyễn Hữu T đối với anh Nguyễn Hữu T; quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi với con nuôi giữa bà Đặng Thị M, ông Nguyễn Hữu T đối với anh Nguyễn Hữu T chấm dứt kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Bà Đặng Thị M phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ việc Hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ nhận định như sau:
. Bà Đặng Thị Mai là mẹ nuôi của anh Nguyễn Hữu T nên có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh Nguyễn Hữu T theo quy định tại Điều 26 Luật Nuôi con nuôi. Tại thời điểm nộp đơn yêu cầu, bà Đặng Thị M và anh Nguyễn Hữu T đều có hộ khẩu thường trú tại tổ 2, khu T, thị trấn X, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội theo quy định tại các điều 29, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Trước khi mở phiên họp giải quyết việc dân sự, bà Đặng Thị M, ông Nguyễn Hữu T và anh Nguyễn Hữu T đều xin vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt bà Đặng Thị M, ông Nguyễn Hữu T và anh Nguyễn Hữu T theo quy định tại Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Vợ chồng bà Đặng Thị M, ông Nguyễn Hữu T nhận anh Nguyễn Hữu T làm con nuôi từ khi anh Nguyễn Hữu T mới 02 tuổi và có đăng ký việc nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh H nên việc nuôi con nuôi giữa vợ chồng bà Đặng Thị M, ông Nguyễn Hữu T đối với anh Nguyễn Hữu T là hợp pháp.
. Nay bà Đặng Thị Mai, ông Nguyễn Hữu T và anh Nguyễn Hữu T đều tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi. Xét thấy, anh Nguyễn Hữu T đã thành niên và việc các đương sự tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi là không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật Nuôi con nuôi. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ nuôi với con nuôi giữa bà Đặng Thị M, ông Nguyễn Hữu T đối với anh Nguyễn Hữu T chấm dứt kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi có hiệu lực pháp luật. Mặc dù cha mẹ đẻ của anh Nguyễn Hữu T đều đã chết, nhưng anh T đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động nên không cần chỉ định người giám hộ cho anh T sau khi chấm dứt việc nuôi con nuôi.
. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Đặng Thị M phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật; được đối trừ tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đã nộp.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều 149, 367, 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các điều 25, 27 Luật Nuôi con nuôi;
Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị M về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh Nguyễn Hữu T. Cụ thể:
1.1. Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa: Bà Đặng Thị M, sinh ngày 19/6/1965; nơi cư trú: Tổ 2, khu T, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội và ông Nguyễn Hữu T, sinh ngày 30/3/1966; nơi cư trú: Thôn 1, xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội đối với anh Nguyễn Hữu T, sinh ngày 18/01/1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú khi có đơn yêu cầu: Tổ 2, khu T, thị trấn X, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; nơi cư trú hiện nay: Tiểu khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh H.
1.2. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ nuôi với con nuôi giữa bà Đặng Thị M, ông Nguyễn Hữu T đối với anh Nguyễn Hữu T chấm dứt kể từ ngày quyết định về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về lệ phí: Bà Đặng Thị M phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự; được đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0010311 ngày 16/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
3. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Bà Đặng Thị M, ông Nguyễn Hữu T, anh Nguyễn Hữu T có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện Chương Mỹ; - Chi cục THA dân sự huyện Chương Mỹ; - UBND thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình; - Các đương sự; - Lưu HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Việt Hưng |