- Tranh chấp gì? "Lê Văn Th - đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? p dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH IỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 54/QĐ-TA | N, ngày 04 tháng 7 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
T A N NH N D N QU N N NH K U, TH NH H CẦN TH
Với thành phần tiến hành phiên họp, gồm có:
1/ Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trang Thư
2/ Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thúy Mai
Ngày 04 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 53/QĐ-TA ngày 28 tháng 6 năm 2018, đối với:
Họ và tên: Lê Văn Th
Giới tính: Nam
Sinh năm: 1987.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 03/12.
Nguyên quán: N, Cần Thơ.
Hộ khẩu thường trú (đã bán nhà từ năm 1990): Đường H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Nơi tạm trú (đăng ký ngày 13/3/2016)/ Chỗ ở: Đường H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Nghề nghiệp: Làm thuê.
Tiền án/ Tiền sự: Tại Quyết định số 22/QĐ-TA ngày 30/3/2016 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành là 24 tháng (kể từ ngày 20/02/2016) – chấp hành xong ngày 20/8/2017.
Con ông Lê Văn K và bà Lôi Thị M.
Vắng mặt (có ý kiến thể hiện xin vắng mặt) tại phiên họp.
* Có sự tham gia của:
1. ại iện c qu n ngh ( h ng o ng thư ng inh v x h i qu n inh i u): Ông Trần Đông Xuân – Chuyên viên.
2 ại iện Viện kiểm sát nh n n qu n inh i u: Bà Nguyễn Thị Thùy Ngân – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Lê Văn Th là người đang được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã/phường/thị trấn theo Nghị định 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 111/2013/NĐ-C ngày 30/9/2013 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 28/QĐ-UBND ngày 15/01/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A với thời gian 03 tháng, kể từ ngày 15/01/2018. Trong thời gian được giáo dục tại địa phương, Th không cố gắng khắc phục sửa chữa hành vi vi phạm mà tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể: vào ngày 28/12/2017, khi tiến hành tuần tra trên các tuyến đường nhằm đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, khi đến hẻm 160 thuộc khu vực 1, phường K phát hiện thanh niên có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma túy nên mời về trụ sở Công an phường làm việc, qua sự tự thừa nhận và xét nghiệm chất ma túy đối với Th bằng que thử nhanh, kết quả dương tính với ma túy (heroin). Từ đó, Công an phường K chuyển hồ sơ cho Công an phường A xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
Trên cơ sở chứng cứ đã thu thập, thấy có đủ cơ sở nên cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị đưa Lê Văn Th đi cai nghiện bắt buộc. Từ đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N ban hành Văn bản số 278/LĐTBXH ngày 12/4/2018 đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Th.
Tại phiên họp,
ngh củ ại iện h ng L o ng - Thư ng inh v
h i qu n inh i u
Trên cơ sở kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đã được hòng Tư pháp quận N thẩm định về m t pháp lý, hòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội và Quản lý sau cai nghiện Thành phố Cần Thơ (Địa chỉ: Ấp X, xã H, thị xã B, tỉnh Hậu Giang) đối với Lê Văn Th (lý lịch nêu trên) với thời gian là 24 tháng.
kiến củ ại iện Viện kiểm sát nh n n qu n inh i u:
- Đối với Tòa án: đã tuân thủ đúng trình tự quy định theo háp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Đối với việc lập hồ sơ đề nghị: đã đảm bảo tính pháp lý về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Vì vậy, hòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N đề nghị đưa Lê Văn Th vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng là phù hợp.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được xem xét tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, nhận định:
Tại các Tờ tự khai/Bản tường trình và Biên bản xác minh vụ việc, Lê Văn Th đều thừa nhận: bản thân sử dụng ma túy (heroin) từ năm 2009, đã từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng chưa từ bỏ được và tiếp tục sử dụng với kết quả xét nghiệm dương tính ma túy lần cuối vào ngày 05/4/2018.
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Lê Văn Th có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường K lập biên bản vi phạm hành chính ngày 28/12/2017. Trên cơ sở vi phạm và hồ sơ đề nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ra Quyết định số 28/QĐ-UBND ngày 15/01/2018 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, thời gian 03 tháng kể từ ngày 15/01/2018. Trong thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, Th v n tiếp tục sử dụng ma túy – được tiến hành thử nước tiểu bằng que thử nhanh vào ngày 05/4/2018 với kết quả xét nghiệm dương tính”. Từ đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ra Quyết định số 107/QĐ-UBND ngày 10/4/2018 chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường.
Như vậy, Lê Văn Th là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú r ràng, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại phường do nghiện ma túy nên thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng d n tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-C ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-C ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Lê Văn Th được tiến hành xét nghiệm chất ma túy lần cuối vào ngày 05/4/2018 với kết quả dương tính” (tức là có sử dụng ma túy) nên còn trong thời hiệu để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng d n tại Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐT ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Xét hồ sơ đề nghị, nhận thấy gồm: Bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị, Biên bản xét nghiệm chất ma túy vào các ngày 28/12/2017 và 05/4/2018 đã được Trạm y tế phường K/ A xác định kết quả xét nghiệm dương tính” với ma túy, Biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép, Bản tường trình của Lê Văn Th, Quyết định chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại phường của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A.
Nên việc lập hồ sơ và trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn Th đảm bảo tính pháp lý theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng d n tại Chương 2 Nghị định số 221/2013/NĐ-C ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136 (nêu trên).
Xét thấy: Lê Văn Th là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy. Trong khi, Nhà nước đang ra sức đấu tranh phòng/chống tội phạm về ma túy và tăng cường giáo dục tại địa phương đối với người nghiện ma túy nhằm đảm bảo trật tự xã hội và sức khỏe cộng đồng. Và Th thuộc đối tượng được hưởng chính sách đó, nhưng đang trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mà Th không tiến bộ, lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm. Điều đó có thể thấy rằng: biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại phường không phát huy hiệu quả đối với Th.
Hơn nữa, Th đã bị xử lý vi phạm hành chính (đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) theo Quyết định số 22/QĐ-TA ngày 30/3/2016 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, chấp hành xong ngày 20/8/2017 – tức là chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử lý (sử dụng trái phép chất ma túy) nên phải chịu tình tiết tăng n ng tái phạm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì vậy, cần áp dụng một thời hạn nghiêm khắc tại cơ sở cai nghiện để Lê Văn Th được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc tạo điều kiện tốt cho Th khi hòa nhập cộng đồng.
Do đó, đề nghị của hòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N và ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ.
Vì các ẽ trên,
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 10, các Điều 95, 96 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Căn cứ vào các Điều 3, 20 và 31 háp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. p dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn Th.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mư i ốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (trường hợp vắng m t thì kể từ ngày nhận được quyết định), người bị đề nghị có quyền khiếu nại, hòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: hòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N phối hợp với Công an quận N đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. N i nh n:
| - Người bị áp dụng; - Trưởng Công an quận N; - Trưởng phòng LĐTBXH quận N; - Ủy ban nhân dân phường (nơi cư trú); - VKSND quận Ninh Kiều; - Trung tâm; - Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN ( ký) Ngu n Th Trang Thư |