vanban.org

Quyết định 54/2021/QĐCNHGT-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận nội dung hòa giải thành giữa anh Tô Văn C và chị Hứa Thị Kh cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Tô Văn C và chị Hứa Thị Kh thuận tình ly hôn. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn C + Kh"
  • Tòa quyết gì? Công nhận nội dung hòa giải thành giữa anh Tô Văn C và chị Hứa Thị Kh cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ M
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 54/2021/QĐCNHGT-HNGĐM, ngày 01 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH QUẢNG NINH

Căn cứ vào các Điều 32, 33, 34, 35, 36 Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ vào Đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” đề ngày 18/8/2021 của anh Tô Văn C, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 15 tháng 10 năm 2021 về việc các bên thuận tình ly hôn và thỏa thuận được với nhau về nuôi con chưa thành niên, tài sản giữa các đương sự:

- Người yêu cầu: Anh Tô Văn C, sinh năm: 1986.

- Người yêu cầu: Chị Hứa Thị Kh, sinh năm: 1986.

Đều đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

Sau khi nghiên cứu biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do hòa giải viên chuyển đến Tòa án.

XÉT THẤY

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 15 tháng 10 năm 2021 có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH

1. Công nhận nội dung hòa giải thành giữa anh Tô Văn C và chị Hứa Thị Kh cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Tô Văn C và chị Hứa Thị Kh thuận tình ly hôn.

- Về con chung:

Chị Hứa Thị Kh là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Tô Kiều Tr, sinh ngày 26/11/2008 và Tô Thanh Tr1, sinh ngày 06/9/2011 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng: Anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng số tiền 2.000.000đ/tháng (hai triệu đồng)/một tháng cho chị Kh nuôi dưỡng các con chung. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 11 năm 2021 đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật; Trên cơ sở lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui đị nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

3. Các đương sự có quyền đề nghị xem xét lại Quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại Quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Nếu có căn cứ cho rằng nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên vi phạm một trong các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Cỡ chữ