vanban.org

Quyết định 533/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/10/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T xin tuyên bố bà Nguyễn Ngọc H “Mất tích”.

Tuyên bố bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1979; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng số E20/61 ấp 5, xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích kể từ ngày 26/03/2005. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T xin tuyên bố bà Nguyễn Ngọc H “Mất tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 533/2022/QĐST-VDSBình Chánh, ngày 28 tháng 10 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trương Văn Hải

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Kim Ngân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 540/2020/TLST-VDS ngày 25 tháng 11 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 18/2022/QĐST-VDS ngày 12/10/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1958; Địa chỉ: tổ 2, ấp LH, xã LT, huyện CG, tỉnh LA; Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T là ông Trần Chí H, sinh năm: 1963; Địa chỉ: số ấp 4, xã PP, huyện BC, Thành phố H.

Bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1979; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng số: ấp 5, xã HL, huyện BC, Thành phố H mất tích.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự cũng như tại phiên họp, đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T là ông Trần Chí H trình bày:

Bà Nguyễn Ngọc H là con của bà Nguyễn Thị T, đi khỏi nhà từ năm 2003 cho đến nay không còn liên lạc với gia đình, gia đình đã tổ chức tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức. Gia đình bà Nguyễn Thị T đã đăng tin trên báo để tìm kiếm bà H nhưng vẫn không có kết quả. Ngày 25/03/2003 Công an huyện Bình Chánh xóa khẩu bà H. Vì bà Nguyễn Thị T đang cần giải quyết một số thủ tục giấy tờ nên làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố bà H mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, tuyên bố bà Nguyễn Ngọc H mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tuyên bố bà Nguyễn Ngọc H mất tích.

Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1979 vắng mặt địa phương, không cư trú tại nơi đăng ký thường trú địa chỉ E20/61 ấp 5, xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2002, cho đến ngày 25/03/2003 Công an huyện Bình Chánh xóa khẩu do bỏ địa phương quá quy định.

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên họp, đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T là ông Trần Chí H cũng xác định: bà Nguyễn Ngọc H là con của bà Nguyễn Thị T, đi khỏi nhà từ năm 2002 cho đến nay không còn liên lạc với gia đình, gia đình bà Thắng đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có kết quả. Nay bà Thắng cần làm một số thủ tục giấy tờ nên yêu cầu Tòa án tuyên bố bà H mất tích.

Căn cứ Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 01/2021/QĐ-TA ngày 19/02/2021 và 04/2022/QĐ-TA ngày 20/05/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh bà Nguyễn Thị T đã đăng, phát thông báo tìm kiếm bà Nguyễn Ngọc H trên báo Sài Gòn Giải phóng trong 03 số liên tiếp vào các ngày 06/03/2021, ngày 07/03/2021 và ngày 08/03/2021 và Đài Tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 03 số liên tiếp vào các ngày 17/06/2022, 18/06/2022 và 19/06/2022.

Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã thực hiện các biện pháp tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo Điều 385 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tuy nhiên đã hơn bốn tháng kể từ ngày thông báo tìm kiếm bà Nguyễn Ngọc H được đăng và phát thông báo lần đầu tiên nhưng bà Nguyễn Ngọc H không trở về, không nhận được bất kỳ tin tức gì của bà Nguyễn Ngọc H.

Tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng”.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định pháp luật có liên quan nhận thấy bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Ngọc H mất tích là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận. Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã Hưng Long, huyện Bình Chánh và đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có căn cứ để xác định bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1979; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng số E20/61 ấp 5, xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích kể từ ngày 26/03/2005.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 385, Điều 388, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T xin tuyên bố bà Nguyễn Ngọc H “Mất tích”.

Tuyên bố bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1979; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng số E20/61 ấp 5, xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích kể từ ngày 26/03/2005.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh có quyền kháng nghị trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ