- Tranh chấp gì? "Ngoc Thang"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Long An (xã X, huyện Y, tỉnh Long An) đối với Lưu Ngọc Thắng, sinh ngày 13/5/1994; Nơi cư trú: Ấp 1A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Thông tư số 05/2018/TT-BCA Quy định việc thu thập tài liệu,…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 53/QĐ-TA | C, ngày 28 tháng 6 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Ngô Thị Thùy Diễm
2. Thư ký phiên họp: Bà Võ Thị Lệ Trinh.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 53/QĐ-TA ngày 13 tháng 6 năm 2023 đối với:
- Người bị đề nghị: A, sinh ngày 13 tháng 5 năm 1994;
Số căn cước công dân: 079094026511
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 6/12.
Nguyên quán: thành phố H
Nơi cư trú: ấp 1A xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Nghề nghiệp: làm hồ.
Tiền án:
Tiền sự: Ngày 13/3/2023, bị Công an xã L xử phạt 1.500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quyết định số 15/QĐ-XPHC (Đã nộp phạt).
Con ông M (chết) và bà: N (chết).
Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Người đề nghị: Ông Lê Hoàng Vũ - Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Tạo - Phó Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Ông Phạm Chí Hiếu – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 10/3/2023 Công an xã L lập biên bản và ra Quyết định xử phạt VPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với A.
Ngày 19/3/2023 UBND xã L ra Quyết định số 555/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với A, thời hạn 01 năm kể từ ngày 10/3/2023.
Ngày 10/4/2023 A tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an xã L lập biên bản VPHC và đưa đi xác định tình trạng nghiện tại Bệnh viện đa khoa khu vực G, kết quả: có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng: methamphetamine.
Ngày 11/4/2023, Ủy ban nhân dân xã L ban hành quyết định số 573/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 11/4/2023, A đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.
Ngày 11/4/2023 UBND xã L ra Quyết định số 574/QĐ-UBND về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình cộng đồng đối với A, thời gian từ ngày 11/4/2023 đến ngày 11/4/2024.
Ngày 26/5/2023 Công an xã L lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và ra thông báo số 29/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A.
Ngày 26/5/2023, Ủy ban nhân dân xã L ra văn bản đề nghị số 1083/ĐN-CNBB về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A.
Ngày 12/6/2023, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C có văn bản số 960/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện C xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A.
* Tại phiên họp:
Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C phát biểu ý kiến: A đang trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, tự nguyện cai nghiện tại gia đình, cộng đồng nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên cần phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là từ 18 tháng đến 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến: Tòa án đã thực hiện đầy đủ các bước tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án. Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A là có cơ sở. Do đó, đề nghị Chủ tọa phiên họp căn cứ vào quy định của pháp luật chấp nhận đề nghị của Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A với thời gian là 24 tháng.
XÉT THẤY:
Về tố tụng: A đã được nhận đầy đủ Thông báo thụ lý về việc thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án quyết định tiến hành phiên họp vắng mặt A.
Về nội dung: A là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có nơi cư trú ổn định, nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật.
Ngày 10/3/2023 Công an xã L lập biên bản và ra Quyết định xử phạt VPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với A.
Ngày 19/3/2023 UBND xã L ra Quyết định số 555/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với A, thời hạn 01 năm kể từ ngày 10/3/2023.
Ngày 10/4/2023 A tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an xã L lập biên bản VPHC và đưa đi xác định tình trạng nghiện tại Bệnh viện đa khoa khu vực G, kết quả: có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng: methamphetamine.
Ngày 11/4/2023, Ủy ban nhân dân xã Long Hòa ban hành quyết định số 573/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 11/4/2023, A đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.
Ngày 11/4/2023 UBND xã L ra Quyết định số 574/QĐ-UBND về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình cộng đồng đối với A, thời gian từ ngày 11/4/2023 đến ngày 11/4/2024.
Ngày 26/5/2023 Công an xã L lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và ra thông báo số 29/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A.
Ngày 26/5/2023, Ủy ban nhân dân xã L ra văn bản đề nghị số 1083/ĐN-CNBB về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A.
Ngày 12/6/2023, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C có văn bản số 960/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện C xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A là có căn cứ.
Về trình tự, thủ tục: Công an xã L, huyện C ra thông báo lập hồ sơ và Ủy ban nhân xã L ra văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A. Ngày 12/6/2023 Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C có văn bản đề nghị Tòa án xem xét. Như vậy, việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A là đúng đối tượng, đúng trình tự và thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 23, Điều 27, khoản 2 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; điểm c khoản 1 Điều 33, Điều 40, Điều 41, Điều 42 Nghị định 116/2021/NĐCP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ; Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07/02/2018; Điều 96, Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về thời hiệu: Tính từ ngày A thực hiện hành vi vi phạm lần cuối (ngày 23/5/2023) đến ngày Tòa án mở phiên họp là chưa quá 03 tháng nên còn thời hiệu xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
A đã bị Công an xã L ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 10/4/2023 theo kết quả của Bệnh viện đa khoa khu vực G: người bị xét nghiệm dương tính với chất ma túy trong cơ thể, loại ma túy sử dụng: methamphetamine và đang trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình thì lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Nhân thân thì A đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó để có điều kiện cai nghiện, học tập và rèn luyện thấy cần phải áp dụng cho A thời gian 24 tháng là phù hợp với đề nghị của Trưởng Phòng Lao động thương binh xã hội huyện C và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào khoản 5 Điều 2; khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 7; điểm b khoản 1 Điều 10; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 23, Điều 27, khoản 2 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy năm 2021.
Căn cứ vào Điều 3, Điều 8, Điều 12, Điều 16, Điều 20, Điều 21, Điều 23; Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 33, Điều 40, Điều 41, Điều 42 của Nghị định 116/2021/NĐCP ngày 21/12/2021;
Căn cứ vào Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07/02/2018;
Căn cứ vào Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Long An (xã X, huyện Y, tỉnh Long An) đối với Lưu Ngọc Thắng, sinh ngày 13/5/1994; Nơi cư trú: Ấp 1A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
2. Thời gian chấp hành là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:
Người bị đề nghị có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Người đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện C có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C phối hợp với Công an huyện C đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện C; - Trưởng Phòng LĐ-TBXH huyện; - Trưởng Công an xã nơi đề nghị; - Công an huyện C; - Người bị đề nghị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Ngô Thị Thùy Diễm |