vanban.org

Quyết định 53/2024/QĐ-TA

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 14/08/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T V H.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày 19/7/2024 là ngày lưu trú tạm thời tại cơ sở cai nghiện ma túy số R, Hà Nội, địa chỉ: Xã T, huyện Y, thành phố Hà Nội. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định, anh T V H có quyền khiếu nại Qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T V H.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN K
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 53/2024/QĐ – TAK, ngày 14 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Thái Thị Hà Thu.

2. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Nguyễn Tiến Đạt

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính thụ lý số 48/2024/TLST-XLVPHC, ngày 08/8/2024 và Quyết định mở phiên họp số 48/2024/QĐ-TA, ngày 08/8/2024 đối với người bị đề nghị:

Họ và tên: T V H, sinh năm 1990; Tên gọi khác: không; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản A, xã B, huyện C, tỉnh Sơn La; Nơi ở: Lang thang, không nơi ở cố định; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Con ông: T V P, sinh năm 1964; Con bà: T T M, sinh năm 1958; Vợ: L T Y, sinh năm 1988; có 2 con: con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không. Anh Hôn hiện đang lưu trú tạm thời tại Cơ sở cai nghiện ma túy số R từ ngày 19/7/2024 đến nay. (Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện K: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh – Chuyên viên Ephòng Lao động thương binh và xã hội huyện K. (Theo Giấy ủy quyền số 54/LĐTBXH, ngày 14/8/2024)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K: Bà Trần Thanh Hiếu – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm là anh T V H. Theo hồ sơ thể hiện, anh Hôn nghiện ma túy từ khoảng năm 2019 đến nay, thời gian sử dụng ma túy gần nhất là ngày 17/7/2024. Ngày 19/7/2024, khi anh D đang đi lang thang tại khu vực đường Cổ Bi, xã Cổ Bi, huyện K thì bị lực lượng Công an xã Ekiểm tra hành chính và mời anh D đến trụ sở Công an xã để làm việc. Quá trình làm việc, anh D khai nhận bản thân là người nghiện ma túy, đã bỏ nhà đi lang thang, lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 17/7/2024. Qua xét nghiệm nước tiểu, anh D dương tính với ma túy loại Heroine (MOP), theo Biên bản xét nghiệm ngày 19/7/2024. Công an xã Etiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với anh D. Anh D có đơn không đăng ký đi cai nghiện tự nguyện và không đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Vì vậy, Công an xã Eđã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T V H và Báo cáo đề xuất với Chủ tịch UBND xã E ra Quyết định giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy số R quản lý anh Hôn trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 19/7/2024.

Ngày 08/8/2024, Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện K có văn bản số 307/ĐN-CNBB về việc Đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T V H và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Tòa án nhân dân huyện K xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

Tại phiên họp hôm nay:

Người bị đề nghị là anh T V H có đơn xin vắng mặt và không có ý kiến thay đổi lời trình bày đã có trong hồ sơ, không có ý kiến nào khác.

Đại diện phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện K đề nghị thời gian cai nghiện ma túy bắt buộc đối với T V H từ 12 tháng đến 24 tháng.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T V H là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân huyện K thụ lý và giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền. Tại phiên họp, thẩm phán đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 3,7,8,9,10,11,13,16,17,20, 21, 22, 23, 24, 30, 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Áp dụng các Điều 95, 96, 105, 107 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Áp dụng Điều 27, Điều 32 của Luật phòng chống ma túy năm 2021; Áp dụng các Điều 40,41,42,43,44,45,46,47,48 và Điều 49 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện và đề nghị thời gian cai nghiện bắt buộc đối với anh Hôn từ 13 tháng đến 16 tháng kể từ ngày giao cho cơ sở cai nghiện số 6.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là anh T V H được lập theo đúng trình tự quy định của pháp luật. Công an và Ủy ban nhân dân xã E lập hồ sơ theo đúng quy định. Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện K có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân huyện K xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét đề nghị của Đại diện phòng Lao động thương binh và xã hội huyện K cũng như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, lời khai của người bị đề nghị và tài liệu có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: anh T V H là người nghiện ma túy từ khoảng năm 2019 đến nay, anh Hôn đã trên 18 tuổi, đã nhận thức được việc nghiện ma túy của mình là ảnh hưởng tới sức khỏe cũng như tình hình trật tự an toàn xã hội, nên đã tự nguyện khai báo về bản thân. Anh Hôn có “Đơn không đăng ký cai nghiện tự nguyện và không đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện thay thế” ngày 19/7/2024. Vì vậy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Hôn là cần thiết, có căn cứ pháp luật. Anh Hôn nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, khai báo thành khẩn về việc sử dụng ma túy và không có tình tiết tăng nặng nào, lấy đó làm căn cứ giảm một phần thời gian cai nghiện bắt buộc để anh Hôn sớm trở về với gia đình và hòa nhập với xã hội.

Đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K phù hợp với nhận đình của Toà án nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 19, 20, 22, 23, 24, 30, 31 và điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Áp dụng các Điều 95, 96, 105, 107, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điểm 49, điểm 58, điểm 59 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính;

Áp dụng Điều 27, Điều 32 của Luật phòng chống ma túy năm 2021; Các Điều 40,41,42,43,44,45,46,47,48 và Điều 49 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy và Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T V H.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày 19/7/2024 là ngày lưu trú tạm thời tại cơ sở cai nghiện ma túy số R, Hà Nội, địa chỉ: Xã T, huyện Y, thành phố Hà Nội.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định, anh T V H có quyền khiếu nại Quyết định này của Tòa án nhân dân huyện K. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện K có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện K có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày công bố Quyết định này 14/8/2024.

Anh T V H khiếu nại phải gửi đơn đến Tòa án nhân dân huyện K, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ khiếu nại.

Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện K kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp kháng nghị bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Tòa án nhân dân huyện K.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện K, Công an huyện K thi hành quyết định này./.

Cỡ chữ