- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 53/2022/QĐST- HNGĐ | Ngũ Hành Sơn, ngày 22 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN – TP. ĐÀ NẴNG
Căn cứ: Khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, Điều 212, 213, 397 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 55, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườn vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc Hôn nhân gia đình thụ lý số: 37/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung” gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
- Ông Huỳnh M, sinh năm: 1985
- Bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm: 1989
Cùng trú tại: Tổ 54, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục: Đơn yêu cầu của ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N nộp tại Tòa án là đúng thủ tục và thẩm quyền được quy định tại Khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N kết hôn với nhau vào năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 21 cấp ngày 28/02/2007. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tại phiên hòa giải ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N xác định: Trong quá trình chung sống với nhau, giữa ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, chủ yếu là do tính cách khác biệt dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, to tiếng với nhau. Vợ chồng cũng đã nói chuyện với nhau nhiều lần để tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả làm cho đời sống hôn nhân ngày càng trầm trọng. Hai bên gia đình cũng đã hòa giải nhưng không có kết quả. Nay ông bà xác định về tình cảm không còn thương yêu nhau nữa, vì vậy ông bà đề nghị Tòa án công nhận việc thuận tình ly hôn cho ông bà.
Xét yêu cầu xin ly hôn của ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thật sự có được dựa trên sự yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng giữa ông Mạnh và bà Ngân lại không làm được điều này. Tại phiên hòa giải thì ông Mạnh và bà Ngân đều xác định không còn tình cảm với nhau. Xét thấy, hiện mâu thuẫn của ông Mạnh và bà Ngân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của ông Mạnh và bà Ngân là phù hợp quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Tại phiên hòa giải, ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N xác định có 03 con chung tên Huỳnh Thị Diễm M, sinh ngày 30/11/2006; Huỳnh Thị Diễm K, ngày 09/08/2010; Huỳnh Đăng T, ngày 30/11/2015. Ly hôn, hai bên thống nhất thỏa thuận giao 03 con chung cho ông Huỳnh M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bà Ngân tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng đối với Huỳnh Đăng T cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Đối với con chung Huỳnh Thị Diễm M, Huỳnh Thị Diễm K, ông Mạnh không yêu cầu bà Ngân cấp dưỡng nuôi con. Thời hạn bắt đầu nghĩa vụ cấp dưỡng được tính từ khi quyết định có hiệu lực pháp luật (ngày 22/7/2022), vào ngày 22 hàng tháng cho đến khi con chung Huỳnh Đăng T trưởng thành đủ 18 tuổi.
Xét yêu cầu về việc nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung của ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N là thoả thuận tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N.
Về tài sản chung: Tại phiên hòa giải, ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N xác định không có tài sản chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Tại phiên hòa giải, ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N xác định vợ chồng không có nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về lệ phí HNGĐ-ST: 300.000 đồng ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N thỏa thuận mỗi người chịu một nửa là 150.000 đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 1291 ngày 14/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Xét thấy việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hòa giải đoàn tụ không thành ngày 14 tháng 7 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó theo quy định tại Điều 212, 213, 397 Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N. (Do công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N nên Giấy chứng nhận kết hôn số: 21, do Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 28/2/2007 không còn giá trị pháp lý).
- Về quan hệ con chung: Ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N xác định có 03 con chung tên Huỳnh Thị Diễm M, sinh ngày 30/11/2006; Huỳnh Thị Diễm K, ngày 09/08/2010; Huỳnh Đăng T, ngày 30/11/2015. Ly hôn, hai bên thống nhất thỏa thuận giao 03 con chung cho ông Huỳnh M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Bà Nguyễn Thị Bích N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con Huỳnh Đăng T 1.000.000 đồng/ tháng cho đến khi Huỳnh Đăng T đủ 18 tuổi. Thời hạn bắt đầu nghĩa vụ cấp dưỡng được tính từ khi quyết định có hiệu lực pháp luật (ngày 22/7/2022), vào ngày 22 hàng tháng cho đến khi con chung Huỳnh Đăng T trưởng thành đủ 18 tuổi.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đều có quyền yêu cầu giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Kể từ quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
2. Về lệ phí HNGĐ-ST: 300.000 đồng ông Huỳnh M và bà Nguyễn Thị Bích N thỏa thuận mỗi người chịu một nửa là 150.000 đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 1291 ngày 14/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Ngũ Hành Sơn; - UBND phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Trâm |