- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "kinh doanh thương mại"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của ông H5 là người đại diện theo uỷ quyền của bà P5 (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) đối với Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2018/KDTM-ST ngày 28/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Q4 - Thành phố Hà Nội.
- Căn cứ chính? Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số 53/2019/QĐ-PT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
CHẤP NHẬN VIỆC KHÁNG CÁO QUÁ HẠN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét kháng cáo quá hạn gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp:
Ông Nguyễn Thái Sơn
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thanh Bình
Bà Ngô Tuyết Băng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Ông Phạm Tuấn An - Kiểm sát viên.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
NHẬN THẤY
Ngày 28/9/2018, Tòa án nhân dân huyện Q4 đã tiến hành xét xử và ra bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2018/KDTM-ST về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng A - Hà Nội
Địa chỉ: Số X, phố S, phường S, quận F - Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông H - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh D2 - Chức vụ: Chuyên viên.
(Theo Giấy ủy quyền số 59/UQ-SHB ngày 22/3/2017)
Bị đơn:
Công ty B;
Địa chỉ: Thôn G, xã S, huyện W- Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông E, sinh năm 1983 - Chức vụ: Giám đốc.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà T, sinh năm 1974 và ông T2, sinh năm 1966.
Cùng trú tại: Số X, phố D3, phường G2, quận H3 - Thành phố Hà Nội.
2. Ông Z, sinh năm 1962 và bà Z2, sinh năm 1962; Anh X1, sinh năm 1983 ( con ông Z và bà Z2); Chị X2 , sinh năm 1982 (vợ anh X1); các con anh X1, chị X2: cháu C, sinh năm 2005 và cháu V, sinh năm 2008); Anh N, sinh năm 1986 (con ông Z1 và bà Z2); chị N2, sinh năm 1988 (vợ anh N); các con anh N2: cháu N3, sinh năm 2013 và cháu N4, sinh năm 2015.
Cùng trú tại: Số nhà G, Ngách Y, tổ dân phố J, phường K, quận M - Thành phố Hà Nội.
3. Bà L1, sinh năm 1944 và bà L2, sinh năm 1973.
Cùng trú tại: Số X, Ngõ X2, Tổ dân phố T, phường D3, quận M - Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lụa: Ông Y, sinh năm 1973. (Ông Tùng có mặt).
Địa chỉ: Công ty G4- Số X, đường V2, phường K4, quận R3 - Thành phố Hà Nội.
4. Bà G4, sinh năm 1964;
Trú tại: Số X, đường F2, phường G2, quận H3 - Thành phố Hà Nội.
5. Phòng công chứng số X - Thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông M4.
Trú tại: Số X, L5, phường P, quận O3, Thành phố Hà Nội.
6. Phòng công chứng số 4 - Thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông J3.
Địa chỉ: Tầng 2, nhà N4D, đường X, phường C4, quận Y4, Thành phố Hà Nội.
Ngày 09/10/2018 ông H5 là người đại diện theo ủy quyền của bà P5 (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) làm đơn kháng cáo.
Ngày 10/10/2018 Tòa án nhân dân huyện Q4 nhận được đơn kháng cáo của ông H5 và Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 01/2018/TB-TA. Thông báo quy định rõ thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí và biên lai nộp tiền tạm ứng án phí của người kháng cáo.
Ngày 17/10/2018 ông H5 có đơn xin gia hạn thời gian nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm vì đang công tác tại tỉnh Cà Mau nên không có mặt tại Hà Nội để nộp tiền tạm ứng án phí. (Kèm theo đơn là Bản phô tô Giấy triệu tập ký ngày 04/10/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh - Triệu tập Luật sư H5 đúng 7 giờ 30 phút ngày 22/10/2018 có mặt tại tại Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau để bào chữa cho bị cáo Hồ Thị Mỹ Loan và đồng phạm trong vụ án “Cố ý gây thương tích”).
Ngày 30/10/2018 ông H5 nộp Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên họp phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên họp vị đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét kháng cáo quá hạn và áp dụng các Điều 275, Điều 276 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo quá hạn của ông H5.
XÉT THẤY:
Ngày 28/9/2018 Tòa án nhân dân huyện Q4 đã tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng A - Hà Nội với Công ty B và đã ra bản án số 02/2018/KDTM-ST ngày 28/9/2018.
Do không đồng ý với Quyết định của Bản án sơ thẩm nên ngày 09/10/2018 ông Tùng làm đơn kháng cáo và nộp cho Tòa án nhân dân huyện Q4 ngày 10/10/2018.
Như vậy ông Tùng đã nộp đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ngày 10/10/2018 Toà án nhân dân huyện Q4 ra Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và đã tống đạt thông báo này cho ông Tùng.
Ngày 17/10/2018 ông Tùng có đơn xin ra hạn thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đến ngày 30/10/2018 với lý do ông Tùng đang phải tham gia một phiên tòa tại tỉnh Cà Mau của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Điều 275, khoản 2 Điều 276 Bộ Luật Tố tụng Dân sự thì trường hợp này được xem là có lý do chính đáng nên theo đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn của ông H5.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào các Điều 275, Điều 276 Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của ông H5 là người đại diện theo uỷ quyền của bà P5 (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) đối với Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2018/KDTM-ST ngày 28/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Q4 - Thành phố Hà Nội.
2. Trả hồ sơ xét kháng cáo quá hạn cho Toà án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục do Bộ Luật Tố tụng Dân sự quy định.
3. Tạm giữ 2.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà ông Tùng đã nộp theo Biên lai số 001057 ngày 30/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Q4 - Thành phố Hà Nội để giải quyết theo trình tự phúc thẩm. CÁC THẨM PHÁN
| THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP |