vanban.org

Quyết định 528/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/11/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thiện Th.

Tuyên bố: bà Trần Thị O, sinh năm: 1971, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Đường L, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích; Ngày mất tích: 02/01/2006. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Trần Thị O được giải quyết theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Trần Thị O"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thiện Th.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 528/2019/QĐST-DSQuận 11, ngày 27 tháng 11 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Ngọc Diệp – Thẩm phán.

Thư ký phiên h p: Ông Nguyễn Đức Vũ – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên h p: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở của Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 425/2018/TLDS-ST ngày 03 tháng 12 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Trần Thị O, sinh năm: 1971, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Đường L, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh” theo Quyết định mở phiên họp số 21/2019/QĐST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự số 109/2019/QĐST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Thiện Th, sinh năm 1971; địa chỉ: khu phố B, Phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Dương;

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn Th, sinh năm: 1972; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số công chứng 020061 quyển số 201/TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng công chứng Đông Thành Phố ngày 05/9/2018) – (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Ngàn Cắm K, sinh năm: 1950; địa chỉ: Đường L, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2. Bà Trần Thị A, sinh năm: 1954; địa chỉ: đường T, Phường P, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt).

3. Chị Trần Thị Bảo T, sinh năm: 2000; địa chỉ: Đường L, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Bà Trần Thị O, sinh năm: 1971 chung sống với ông Trần Thiện Th có đăng ký kết hôn theo Giấy đăng ký kết hôn số 42/1998 do Ủy ban nhân dân xã Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 19/10/1998 (Trích lục kết hôn số 34/TLKH-BS ngày 03/02/2017). Bà Trần Thị O có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ Đường L, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ hôn nhân, bà O có một người con là chị Trần Thị Bảo T, sinh năm: 2000. Sau khi kết hôn, ông T và bà O chỉ chung sống một thời gian ngắn sau đó ly thân từ đó đến nay. Năm 2018, ông T trở về nơi bà O sinh sống để tìm nhưng không gặp. Theo Công an Phường K, Quận G thông tin: Bà O có sinh sống tại địa chỉ Đường L, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng khu vực trên đã giải tỏa từ năm 2003, bà O đi không thông báo địa phương nên Công an Phường K, Quận G không biết bà O hiện ở đâu. Ông T đã tiến hành tìm kiếm nhưng không có bất cứ thông tin gì của bà O. * Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự nộp ngày 16/11/2018, bản tự khai, người yêu cầu – ông Trần Thiện Th – yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị O mất tích để tiến hành thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Ngàn Cắm K, chị Trần Thị Bảo T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án theo giấy triệu tập. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị A có bản tự khai xác nhận bà là mẹ của bà Trần Thị O. Năm 1980, bà và ông Ngàn Cắm K (cha của bà O) không chung sống thì bà cũng không liên lạc và không có thông tin gì của bà Trần Thị O từ đó cho đến nay. Đề nghị Tòa án xem xét yêu cầu của ông T theo quy định của pháp luật. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự như sau:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy trình của pháp luật về tố tụng. Tuy nhiên, Thầm phán chưa đảm bảo thời hạn tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự; ban hành Quyết định mở phiên họp chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thiện Th về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” đối với bà Trần Thị O. Ngày mất tích là 02/01/2006.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 11 nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết:

Ông T có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Trần Thị O, sinh năm: 1971, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Đường L, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đây là việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ Trích lục kết hôn số 34/TLKH-BS ngày 03/02/2017 của Ủy ban nhân dân xã Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, ông T là chồng của bà O nên ông T có quyền yêu cầu tuyên bố bà O mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự: “Khi một người biệt tích từ 02 năm … thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”.

Về yêu cầu của đương sự:

Ông T có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Trần Thị O, sinh năm: 1971, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Đường L, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, do nơi cư trú của bà O bị giải tỏa từ năm 2003 đến nay, bà O hiện không rõ còn sống hay đã chết, không rõ bà O hiện nay đang ở đâu.

Ông Trần Thiện Th xuất trình số báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 29/9/2018 có đăng thông tin tìm kiếm bà O nên có cơ sở để xác định r ng ông T đã thực hiện việc thông báo tìm kiếm bà O trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có kết quả. Tòa án nhân dân Quận 11 đã có Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 08/2018/QĐ-TA ngày 24/12/2018. Thông báo tìm kiếm đã được đăng tải trên Báo Lao Động là báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp (các ngày 07, 08, 09 tháng 01 năm 2019); Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Phát thanh trên Đài tiếng nói Việt Nam theo quy định của pháp luật nhưng cho đến nay v n không có thông tin gì về việc bà O còn sống hay đã chết.

Căn cứ pháp lý xem xét yêu cầu của đương sự:

Theo Biên bản xác minh của Công an Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh:

“Bà Trần Thị O, sinh năm: 1971, HKTT: I4B Lữ Gia, Phường K, Quận G (đây là khu vực Trường đua Phú Thọ, đã được giải tỏa từ 2003 đến nay), đi không báo địa phương nên không nắm rõ chỗ ở.

Cha ruột: Ngàn Cắm K, sinh năm: 1950.

Con đẻ: Trần Thị Bảo T, sinh năm: 2000. Về tên chồng bà O do Công an Phường K, Quận G không có thông tin nên không biết ở đâu, làm gì? Tất cả đều có hộ khẩu tại I4B Lữ Gia, Phường K, Quận G”. “Qua rà soát sổ KV2 quản lý nhân hộ khẩu, bà Trần Thị O, sinh năm: 1971 có hộ khẩu thường trú tại I4B Lữ Gia, Phường K, Quận G, không có anh, chị, em ruột, số hộ khẩu: 29584”. Theo Giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú trong hộ I4B Lữ Gia, Phường K, Quận G năm 1976 của Công an Quận 11 thể hiện: bà Trần Thị O, sinh năm: 1971 có cha ruột là ông Ngàn Cắm K, sinh năm: 1950; mẹ ruột là bà Trần Thị A, sinh năm: 1954. Theo lời trình bày của bà Ẩm từ năm 1980 bà đã chuyển ra khỏi nhà Đường L, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và không có liên lạc, không biết thông tin gì của bà O. Theo Công văn phúc đáp của Phòng quản lý xuất nhập cảnh – Công an Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung: “Theo thông tin quý tòa cung cấp Trần Thị O, sinh năm: 1971, CMND số xxxxxxxxx không có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh”. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự 2015: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”. Từ những văn bản trên, Tòa án xác định nơi cư trú cuối cùng của bà Trần Thị O là Đường L, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (hiện là Trường đua Phú Thọ), đã biệt tích hơn 02 năm (kể năm 2003 đến nay) và không có thông tin xác thực là bà O còn sống hay đã chết. Do vậy, Tòa án có cơ sở xác định bà O mất tích theo quy định của pháp luật. Bà Trần Thị O đi khỏi địa phương và không có thông tin xác thực là còn sống hay đã chết từ năm 2003, không rõ ngày, tháng. Do không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng nên ngày biệt tích “được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng” theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự. Ngày biệt tích được xác định là ngày 01/01/2004. Từ những phân tích trên, nhận định của Tòa án là phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11. Tòa án xét thấy yêu cầu của ông Trần Thiện Th là có cơ sở nên chấp nhận. [3] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; người yêu cầu ông Trần Thiện Th phải chịu lệ phí là 300.000 đồng.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; Điều 371; Điều 372; Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thiện Th.

Tuyên bố: bà Trần Thị O, sinh năm: 1971, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Đường L, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích; Ngày mất tích: 02/01/2006.

Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Trần Thị O được giải quyết theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Ông Trần Thiện Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0009414 ngày 27/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T đã nộp đủ lệ phí.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết./.

Cỡ chữ