- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Y/c tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Vương Thu T:
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 523/2018/QĐST–DS Ngày: 14-9-2018 V/v: “Tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Chủ tọa phiên họp: Bà Hoàng Mỹ Kiều – Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Lan Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Vào ngày 14 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở của Tòa án nhân dân quận Tân Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 234/2018/TLDS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2018 về việc: “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 179/2018/QĐ-MPH ngày 31 tháng 8 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Vương Thu T – sinh năm 1968; Địa chỉ: đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu tuyên bố ông Phạm Văn N – sinh năm 1971; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa phương từ năm 2013 nên bà Vương Thu T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn N mất tích.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình nhận định như sau:
Về quan hệ dân sự:
Bà Vương Thu T có đơn yêu cầu tuyên bố ông Phạm Văn N - sinh năm 1971 mất tích. Đây là yêu cầu về dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết:
Ông N có nơi cư trú cuối cùng tại quận Tân Bình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tư cách tố tụng: Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định người yêu cầu là bà Vương Thu T.
Bà Vương Thu T là người yêu cầu có mặt tại phiên họp giải quyết yêu cầu tuyên bố ông Phạm Văn N mất tích.
Về yêu cầu của đương sự:
Người yêu cầu là bà Vương Thu T trình bày: Bà và ông Phạm Văn N chung sống với nhau từ năm 1997, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 8, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận số 56/1997, quyển số 01/P8 ngày 04/6/1997. Sau khi kết hôn, hai bên chung sống tại 36/49 Lý Thường Kiệt, Phường 8, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; có 02 con chung tên Phạm Vương M, sinh ngày 28/9/1997 và Phạm Vương Anh Q, sinh ngày 02/02/2001. Trong thời gian bà và ông N chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông N đã bỏ nhà đi vào ngày 04/8/2013 và không liên lạc gì với vợ con. Bà đã cố gắng tìm kiếm ông N để thực hiện thủ tục ly hôn nhưng không có kết quả. Cha mẹ ông N đã mất từ lâu, gia đình ông N đã bán nhà, các anh em bên gia đình ông N cũng đi nơi khác nên bà không thể hỏi thăm tin tức gì về ông N được. Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Bình tuyên bố ông Phạm Văn N - sinh năm 1971, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích.
Tại phiên họp hôm nay, bà Vương Thu T vẫn giữ yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn N mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến: Chấp nhận yêu cầu của bà Vương Thu T, tuyên bố ông Phạm Văn N mất tích.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc, lời trình bày của đương sự; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến; Tòa án xét thấy:
Căn cứ vào xác nhận nơi cư trú của Công an Phường 9, quận Tân Bình thì: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1971 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ đường D, Phường E, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, đã bán nhà năm 1997, không thực tế cư trú tại địa phương.
Theo Kết quả xác minh tình trạng cư trú đối với ông Phạm Văn N của Công an Phường 8, quận Tân Bình thì: Ông Phạm Văn N không thực tế cư trú tại địa chỉ số đường A, Phường B, quận C từ năm 2013 đến nay, hiện không rõ nơi cư trú.
Bà T đã đăng tin tìm kiếm ông N trên phương tiện thông tin đại chúng như Báo Nhân Dân, Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 27/4/2018. Đến nay đã quá 04 tháng mà vẫn không có tin tức gì của ông N nên Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà T là có căn cứ theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự. Do ông Phạm Văn N đã không cư trú tại địa phương theo xác nhận của Công an Phường 8, quận Tân Bình là từ năm 2013 đến nay không rõ tin tức nên ngày ông N mất tích được tính là ngày 01/01/2014.
Về lệ phí việc dân sự là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do bà Vương Thu T phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
- Căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 68; khoản 2, 3 Điều 367; Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Vương Thu T:
Tuyên bố ông Phạm Văn N - sinh năm 1971 có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ 36/49 Lý Thường Kiệt, Phường 8, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là đã mất tích kể từ ngày 01/01/2014.
2. Về lệ phí:
Bà Vương Thu T phải chịu lệ phí là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí do bà T đã nộp theo biên lai số AA/2017/0008107 ngày 04/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu là bà Vương Thu T có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày công bố quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN
Nôi nhaän:
- TAND TP.HCM ;
- VKSND quận Tân Bình;
- Chi cục THADS quận Tân Bình;
- UBND Phường B, quận C;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, VP.
Hoàng Mỹ Kiều