vanban.org

Quyết định 52/QĐ-TA

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 24/10/2017 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành L.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao độ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thanh L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành L.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 52 /QĐ-TAP, ngày 24 tháng 10 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Văn Nhàn.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai Hải

Ngày 24 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 55/QĐ-TA ngày 19 tháng 10 năm 2017 đối với:

Nguyễn Thành L

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 17 tháng 4 năm 1988.

CMND số:

;Ngày cấp:

; Nơi cấp:

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 4/12

Nguyên quán: Thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang

.

Nghề nghiệp: Không.

Nơi ĐKHKTT: Ấp Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang

Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.

Tiền án: 01

Tiền sự: Không

Con ông: Nguyễn Hữu A và bà Bùi Thị K.

Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Đức Tân - Chuyên viên của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai (theo văn bản ủy quyền số 432/UQ-LĐTBXH ngày 23/10/2017).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai: Bà Phạm Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Nguyễn Thành L là đối tượng nghiện ma túy, L bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 3 năm 2016 cho đến nay, loại ma túy mà L sử dụng là ma túy đá và cần sa, hình thức sử dụng là hít. L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang nhưng không sinh sống tại địa phương và không có nơi cư trú ổn định.

Khoảng 22 giờ ngày 28/8/2017, Nguyễn Thành L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Đường T, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai bị Công an phường I, thành phố P phát hiện lập biên bản, tại đây đối tượng Nguyễn Thành L khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 29/8/2017, Công an phường I đưa đối tượng Nguyễn Thành L vào xét nghiệm ma túy tại Trạm y tế phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Kết quả xét nghiệm của Trạm y tế phường I cho thấy Nguyễn Thành L có nghiện ma túy thuộc nhóm THC (MariJuana – Cần sa – Bồ đà).

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P là ông Hoàng Đức Tân đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là đối tượng Nguyễn Thành L với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đồng ý với đề nghị của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội về quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Nguyễn Thành L.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại mục 2 khoản 2 Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Nguyễn Thành L, sinh năm 1988 là người nghiện ma túy đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định theo quy định tại mục 3 khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường I đã quyết định lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và quyết định giao Nguyễn Thành L cho Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Nguyễn Thành L, được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Hồ sơ đã được Phòng Tư pháp thành phố P kiểm tra và xác định hồ sơ bảo đảm tính pháp lý theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Nguyễn Thành L là đối tượng nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là cần sa, hình thức sử dụng là hút. Bản thân Nguyễn Thành L có nhân thân xấu, đã từng có 01 tiền án về tội hiếp dâm và cố ý gây thương tích, chưa được xóa án tích. Đối tượng Nguyễn Thành L đã từng bị Công an thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang đưa đi cai nghiện 03 lần ( lần 01 vào tháng 3/2016 thời gian 15 ngày, lần 02 vào tháng 5/2016 thời gian 02 tháng và lần 03 vào thang1 7/2016 trong thời gian 03 tháng) xét thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của L là hành vi nguy hiểm, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, bản thân L lại không có nơi cư trú ổn định, địa phương không thể giám sát nên phải xem xét các yếu tố này khi quyết định thời gian đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Nguyễn Thành L.

Từ những phân tích trên, xét đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố P về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Nguyễn Thành L là có căn cứ và đúng pháp luật.

Căn cứ vào Điều 95, 96, 103, 104, 105, 107 và Điều 108 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào các Điều 3, 22, 23, 24, 30, 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 4, 8 và Điều 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;

Căn cứ vào mục 3 khoản 1; mục 2 khoản 2 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành L.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án. Riêng với đối tượng Nguyễn Thành L có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố P phối hợp với Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Cỡ chữ