- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng T yêu cầu ông T ,bà X thanh toán hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------------------------------- Số: 52/2020/QĐST-KDTM | Thuỷ Nguyên, ngày 11 tháng 12 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào biên bản hoà giải thành ngày 03 tháng 12 năm 2020 về việc các đương sự đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự thụ lý số: 87/2020/TLST-KDTM ngày 09 tháng 10 năm 2020;
XÉT THẤY:
Các thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hoà giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thoả thuận giữa các đương sự không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S ; trụ sở: Phường 8, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Bùi Văn L – Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch T - Ngân hàng TMCP S là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 128/2020/GUQ/CNHP ngày 08/9/2020).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Viết X và vợ bà Nguyễn Thùy T ; địa chỉ: Thôn 02, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Hoàng Thị L ; anh Nguyễn Nhất D và chị Nguyễn Thị N ; đều có địa chỉ: Thôn 02, xã M , huyện T , thành phố Hải Phòng.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Viết X và vợ bà Nguyễn Thùy T ; địa chỉ: Thôn 02, xã M , huyện T , thành phố Hải Phòng là người đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền ngày 30/11/2020).
2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
2.1. Về nghĩa vụ trả nợ: Ông Nguyễn Viết X và bà Nguyễn Thùy T phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
tổng số tiền của các hợp đồng tín dụng là 1.057.542.100 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 980.000.000 đồng và tiền nợ lãi trong hạn 60.217.893 đồng và quá hạn là 17.324.207 đồng. Cụ thể như sau: Hợp đồng tín dụng số LD1909800277 ngày 10/4/2019: Tiền nợ gốc là 280.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 19.621.217, tiền nợ lãi quá hạn: 8.988.837 đồng. Hợp đồng tín dụng số LD1909800275 ngày 10/04/2019 là: Tiền nợ gốc: 700.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 40.596.675 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là 8.335.371 đồng.
Kể từ ngày 04 tháng 12 năm 2020 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thoả thuận về việc điều chính lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Toà án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2.2 Phương án trả nợ: Chậm nhất đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, ông Nguyễn Viết X và bà Nguyễn Thùy T sẽ thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Viết X và bà Nguyễn Thùy T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản đảm bảo sau để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số LD1909800277/HĐTC ngày 10/04/2019 là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 688A, tờ bản đồ số 04, tại thôn 02, xã M , huyện T , thành phố Hải Phòng; Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE822171 do Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên cấp ngày 31 tháng 10 năm 2016 cho chủ sử dụng là ông Nguyễn Viết X vợ là bà Nguyễn Thùy T (bao gồm các mốc giới 1,2,3,4,5,6,7,9,10,11,12,13,14,15,16 có sơ đồ kèm theo, nếu các mốc giới thửa đất vào vị trí công trình xây dựng thì ông Nguyễn Viết X và bà Nguyễn Thùy T phải tự tháo dỡ).
Sau khi phát mại tài sản bảo đảm, nếu số tiền thu được dùng để trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
còn thừa thì trả lại cho người phải thi hành án; nếu còn thiếu thì người phải thi hành án phải tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán phần còn thiếu cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S .
2.4. Về án phí: Ông Nguyễn Viết X và bà Nguyễn Thùy T tự nguyện nhận nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm 21.863.000 đồng. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
số tiền tạm ứng án phí là 21.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002325 ngày 09 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Thuỷ Nguyên; - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên; - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Lê Thị Hồng Lý |