- Tranh chấp gì? "Nguyễn Đức D"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức D.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 51/QĐ-TA | Pleiku, ngày 04 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Lê Văn Nhàn.
2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Ngọc Hà. Ngày 04 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 50/QĐ-TA ngày 31 tháng 8 năm 2020 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Đức D (Tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam.
Sinh ngày: 01 tháng 7 năm 2002.
CMND số:
, Ngày cấp:
, Nơi cấp:
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 08/12.
Nguyên quán: Huyện T P, tỉnh Đ.
Nơi ĐKHKTT: Thôn 07, xã N H, huyện C P, tỉnh G.
Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: Không
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Con ông: Nguyễn Xuân H và bà Lê Thị T.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đoàn Hòa Bình - Chuyên viên của Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai (theo văn bản ủy quyền số: 50/UQ-LĐTBXH ngày 04-9-2020).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai: Bà Trịnh Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Đức D là đối tượng nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định, D bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 5 năm 2020 cho đến nay, loại ma túy mà D sử dụng là ma túy đá, ma túy tổng hợp, sử dụng bằng hình thức hít trực tiếp ma túy bằng mũi vào phổi. Ngày 28-7-2020 Nguyễn Đức D đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà trọ 92 LĐ, tổ 05, phường T B, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai nên bị Công an phường T B, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai lập biên bản xử lý vi phạm hành chính số: 0002799/BB-VPHC ngày 02-8-2020. Qua xác định, Nguyễn Đức D không có nơi cư trú ổn định nên Công an phường T B, thành phố Pleiku đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức D.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố Pleiku đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức D với thời hạn từ 14 (mười bốn) tháng đến 18 (mười tám) tháng.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Đồng ý với đề nghị của đại diện Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố Pleiku về quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Nguyễn Đức D.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
Hồ sơ đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 2 Điều 9 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về hành vi vi phạm: Ngày 28 tháng 7 năm 2020, Nguyễn Đức D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện, Công an phường T B, thành phố Pleiku lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 02-8-2020. Quá trình làm việc Nguyễn Đức D đều khai nhận có việc sử dụng ma túy này.
Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 02-8-2020 của Trạm Y tế phường T B-Trung tâm y tế thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xác định Nguyễn Đức D có nghiện ma túy: Thuộc nhóm MET (Methamphetamin – Ma túy đá) và AMP (Amphetamin – Ma túy tổng hợp). Phiếu trả lời này là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số: 136/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ. Vì vậy, Tòa án có căn cứ khẳng định Nguyễn Đức D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Về tài liệu xác định đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Biên bản xác minh ngày 02-8-2020 của Công an phường T B, thành phố Pleiku tiến hành xác minh tại nơi đăng ký thường trú của D xác định “Nguyễn Đức D sinh ngày 01-7-2002 có đăng ký thường trú tại thôn 07, xã N H, huyện C P, tỉnh G. Hiện Nguyễn Đức D không sinh sống tại địa phương, bỏ đi khỏi địa phương từ thời gian tháng 9 năm 2019 đến nay, không rõ đi đâu, làm gì, với ai ” và Biên bản xác minh ngày 02-8-2020 của Công an phường T B, thành phố Pleiku tiến hành xác minh nơi D lưu trú xác định “Nguyễn Đức D có đến địa chỉ 92 LĐ, tổ 05, phường T B, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai cư trú từ ngày 28-7-2020 đến ngày 02-8-2020 nhưng không thực hiện việc khai báo lưu trú với cơ quan Công an theo quy định”.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Kể từ ngày 28-7-2020, Nguyễn Đức D thực hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép lần cuối bị phát hiện và lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép, đến ngày mở phiên họp vẫn còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ và theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Trưởng Công an phường T B lập hồ sơ đối với đối tượng Nguyễn Đức D và ra Thông báo số: 102/TB – CAP ngày 02-8-2020, về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ – CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ. Cùng ngày, Nguyễn Đức D được đọc hồ sơ.
Như vậy, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ.
Nguyễn Đức D bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 5 năm 2020; loại ma túy mà D sử dụng là ma túy đá, ma túy tổng hợp. Ngoài ra, các lần sử dụng ma túy trước đây của Nguyễn Đức D không bị phát hiện nên không có căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nguyễn Đức D có đủ nhận thức để nhận biết hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước về ma túy nhưng vẫn cố tình sử dụng. Hành vi này của Nguyễn Đức D không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bản thân mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội.
Quá trình giải quyết vụ việc, đối tượng đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì vậy, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức D.
Căn cứ vào các Điều 7, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ vào các Điều 22, 23, 24, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20-01-2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ vào các Điều 4, 8 và 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ; căn cứ Điều 3, 9 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ.
QUYẾT ĐỊNH:
Vì các lẽ trên;
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức D.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố Pleiku có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án. Riêng đối với đối tượng Nguyễn Đức D có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
| Nơi nhận: - Nguyễn Đức D; - CA Tp Pleiku; - VKSND Tp Pleiku; - Phòng LĐ-TB&XH Tp Pleiku; - UBND phường T B ; - Công an phường T B ; - Cơ sở Tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Lê Văn Nhàn |