vanban.org

Quyết định 51/2024/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Bùi Huy Đ.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: * Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Bùi Huy Đ thoả Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng H xin ly hôn Bùi Huy Đ"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Bùi Huy Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 51/2024/QĐST-HNGĐP, ngày 12 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Số nhà 06, ngõ 662, đường 30/6, phường N, thành phố N, tỉnh N;

2. Bị đơn: Anh Bùi Huy Đ, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên;

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Cháu Bùi Công D, sinh ngày 18/10/2012;

+ Cháu Bùi Anh H, sinh ngày 04/8/2016;

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên;

Người đại diện hợp pháp của cháu D, cháu H: Anh Bùi Huy Đ và chị Nguyễn Thị Hồng H là bố mẹ đẻ của các cháu.

Căn cứ vào các điều 212, 213, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về mức án phí, lệ phí;

Căn cứ vào các điều 51, 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 04/7/2024.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 04/7/2024 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Bùi Huy Đ.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Bùi Huy Đ thoả

thuận nhất trí thuận tình ly hôn.

* Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Bùi Huy Đ xác nhận vợ chồng có 02 con chung là các cháu Bùi Công D, sinh ngày 18/10/2012 và cháu Bùi Anh H, sinh ngày 04/8/2016. Ly hôn, chị H và anh Đ thoả thuận thống nhất giao cháu H cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục; giao cháu D cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi cháu D và cháu H đủ 18 tuổi. Chị H và anh Đ thoả thuận, mỗi người nuôi một cháu nên không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào. Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Bùi Huy Đ được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung không ai được cản trở.

* Về tài sản chung, nợ chung, công sức, ruộng canh tác: Chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Bùi Huy Đ xác định anh, chị không có tài sản chung, không có nợ chung, không có công sức đóng góp đối với hai bên gia đình, không có ruộng canh tác chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Bùi Huy Đ thỏa thuận thống nhất chị H tự nguyện chịu toàn bộ 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23/0000690 ngày 20/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Hưng Yên, chị H đã nộp đủ án phí. Hoàn trả chị Nguyễn Thị Hồng H 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ