- Tranh chấp gì? "Trịnh V “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
- Căn cứ chính? Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 51/2023/QĐ-TA | Phan Thiết, ngày 28 tháng 7 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: bà Hồ Nữ Kiều Mỹ
2. Thư ký phiên họp: bà Lê Thị Quỳnh Trang
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố P tiến hành
phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc đối với hồ sơ thụ lý số 55/2023/TLST-XLHC ngày 19 tháng
7 năm 2023 và theo Quyết định mở phiên họp số 55/QĐ-TA ngày 21 tháng 7
năm 2023 đối với:
Họ và tên: Trịnh V. Giới tính: nam
Sinh ngày: 19 tháng 5 năm 1994
Số CCCD/CMND: 060202013336, ngày cấp: 14/9/2021, nơi cấp: Cục
cảnh sát QLHC về TTXH
Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không
Trình độ văn hóa: 8/12. Nghề nghiệp: lao động tự do
Nguyên quán: phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
Nơi cư trú: hẻm 195/30/17, đường V, khu phố 4, phường Đ, thành phố P,
tỉnh Bình Thuận
Tiền án: không; tiền sự: không.
Con ông: Trịnh N, sinh năm 1965
Con bà: Huỳnh Thị Mỹ H, sinh năm 1967
Vợ, con: không có.
Người bị đề nghị và bà Huỳnh Thị Mỹ H (mẹ của Trịnh V) đều có mặt tại
phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Trần Thế Hùng - Chuyên viên Phòng Lao
động - Thương binh xã hội thành phố P.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P: bà Huỳnh Nhã Uyên -
Kiểm sát viên.
3. Đại diện Công an phường Đ: ông Nguyễn Thế Phong - Công an khu vực.
4. Đại diện Ủy ban nhân dân phường Đ: ông Nguyễn Thị Hoa - công chức
tư pháp, hộ tịch.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:
Trịnh V khai nhận sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2017, đến ngày
21/6/2023 Công an phường Đ phát hiện Trịnh V sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực bờ biển thuộc phường Đức Long. Ngày 21/6/2023, Công an phường Đ tổ chức xét nghiệm nước tiểu của Trịnh V xác định kết quả là “Dương tính” với Methamphetamine, Morphine Heroine (theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bình Thuận).
Tại biên bản làm việc ngày 21/6/2023 của Công an phường Đ, sau khi phát
hiện đối tượng Trịnh V sử dụng trái phép chất ma túy, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày 22/6/2023 đến ngày 28/6/2023, người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi trở lên phải đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (Mathadone) tại UBND phường nơi người đó cư trú.
Ngày 29/6/2023, Chủ tịch UBND phường Đ lập biên bản vi phạm về cai
nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, đã có hành vi vi phạm: đối tượng Trịnh V (sau 05 ngày) không đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại Khoản 1, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
Ngày 03/7/2023, Chủ tịch UBND phường Đ ban hành Quyết định số
145/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 05/7/2023, Chủ tịch UBND phường Đ có Công văn số 529/ĐN-
CNBB về việc xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 18/7/2023, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội có Công văn
số 1127/ĐN-CNBB về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Bình Thuận đối với Trịnh V.
Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội:
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trịnh V đã được gia đình, Công
an, chính quyền địa phương phối hợp giáo dục, sau khi phát hiện đối tượng Hậu sử dụng trái phép chất ma túy, trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả xét nghiệm chất ma túy của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bình Thuận, đối tượng Hậu không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (Methadon) tại UBND phường Đ. Đề nghị Tòa án đưa Trịnh V vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
Ý kiến của đại diện Công an phường Đ:
Trịnh V là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2017, Công an phường phát
hiện V đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, sau đó kết quả là “Dương tính” với Methamphetamine, Morphine Heroine. Căn cứ quy định pháp luật, Công an phường đã cho đối tượng 05 ngày đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng
đối tượng V sau 05 ngày không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc
điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. UBND phường Đ
lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma
túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Do đó, đề
nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa đối tượng V đi cai nghiện bắt buộc.
Ý kiến của đại diện Ủy ban nhân dân phường Đ: Nhất trí với đề nghị
của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và đại diện Công an
phường Đ đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc.
Ý kiến của người bị đề nghị: Xin Tòa án xem xét giảm nhẹ thời gian cai
nghiện bắt buộc để sớm trở về đời sống xã hội và phụ giúp gia đình.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P:
Việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với
Trịnh V đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Đề nghị chấp nhận đề nghị
của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P, cần thiết đưa
Trịnh V vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở kết quả tại phiên họp, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã
được thẩm tra tại phiên họp cũng như ý kiến phát biểu của những người tham gia
phiên họp, thấy rằng:
Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Hồ sơ do Phòng Lao động - Thương
binh và Xã hội thành phố P lập đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét,
quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
đối với Trịnh V. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính
năm 2012; điểm a khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định
áp dung các biện pháp xử lý hành chính, Tòa án nhân dân thành phố P thụ lý,
xem xét là đúng thẩm quyền.
Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với
Trịnh V lập ngày 21/6/2023 do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày
19/7/2023, Tòa án nhân dân thành phố P đã thụ lý xem xét vẫn còn thời hiệu quy
định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P đối
với Trịnh V đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 104 Luật
xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của
Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử
lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Căn cứ các tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P; ý kiến của đại diện Công
an phường Đ, Ủy ban nhân dân phường Đ; ý kiến của người bị đề nghị; ý kiến
của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có đủ cơ sở xác định:
Trịnh V sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2017. Vào ngày 21/6/2023
Công an phường Đ phát hiện V có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời theo xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 21/6/2023 của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bình Thuận xác định Trịnh V “Dương tính” với Methamphetamine, Morphine Heroine đủ căn cứ kết luận V có nghiện ma túy. Tuy nhiên, trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xét nghiệm chất ma túy, Trịnh V không đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại Khoản 1, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tiền án, tiền sự: Không.
Về nhận thức: Trịnh V biết rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi
phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Người bị đề nghị thành khẩn khai báo, thành thật hối
lỗi.
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi: Hành vi sử dụng dẫn đến
nghiện ma túy của Trịnh V còn là nguyên nhân của những hành vi vi phạm pháp luật khác. Hành vi của Trịnh V không chỉ gây hại cho sức khỏe bản thân mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi Trịnh V thực hiện hành vi. Do đó việc đưa Trịnh V vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết nhằm giúp V cai nghiện đối với chất ma túy và trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Xét ý kiến của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P, ý
kiến của đại diện Công an phường Đ, Ủy ban nhân dân phường Đ và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P là có cơ sở để chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ:
- Điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, Khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104,
khoản 2 Điều 105, Điều 106 và khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021;
- Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ
quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
- Khoản 1 Điều 3, Điều 8, 17, 20, 21, 23, 24 và Điều 32 Pháp lệnh số
03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc” đối với: Trịnh V.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 (hai mươi bốn)
tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại của người bị đề nghị, quyền kiến nghị của Phòng Lao
động - Thương binh và Xã hội thành phố P, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố P, trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án
công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội
thành phố P phối hợp với Công an thành phố P đưa Trịnh V vào cai nghiện bắt
buộc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Bình Thuận.
| Nơi nhận: - Phòng LĐTBXH thành phố P; - VKSND thành phố P; - Công an phường Đ; - UBND phường Đ; - Người bị đề nghị; - Lưu: hồ sơ. | THẨM PHÁN Hồ Nữ Kiều Mỹ |