vanban.org

Quyết định 50/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 14/12/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K: Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 23/10/2017 anh Nguyễn Mạnh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên. Chị Nguyễn Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh K do anh K không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Chị T và anh K yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K.
  • Căn cứ chính? Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 50/2022/QĐST – HNGĐPhú Thọ, ngày 14 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Thu Huyền;

Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 155/2022/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 101/2022/QĐ-MPH ngày 07 tháng 12 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Chị Nguyễn Kim T, sinh năm 2000; ĐKHKTT: Tổ dân phố 2 A, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội; hiện làm việc tại: Công ty TNHH tư vấn và dịch vụ N; địa chỉ: Số nhà 175 đường Đ, tổ 20, khu 2B, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

- Anh Nguyễn Mạnh K, sinh năm 1997; ĐKHKTT: Tổ dân phố 2 A, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: No.59, Meishan Rd, Niaosong District, Kaohsiung City, Đài Loan (Trung Quốc).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; ĐKHKTT: Tổ dân phố 2 Ái Mỗ, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội

(Các đương sự đều có đơn xin giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và các bản tự khai chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K trình bày: Chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K đăng ký kết hôn ngày 17/4/2018 tại Ủy ban nhân phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội. Trướ c khi kết hôn hai bên được tự do tim hiểu, đăng ki

̀

́ kết hôn tự nguyê ̣n , không bi ̣ ai ép buô ̣c . Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì anh K sang Đài Loan sinh sống và làm việc. Thời gian đầu sống xa nhau vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nhỏ, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Sau đó thời gian sống xa nhau thường xuyên, vợ chồng không có điều kiện để quan tâm, chia sẻ. Những mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể giải quyết, cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng ngày càng bế tắc. Đã nhiều lần hai vợ chồng nói chuyện để tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả tích cực, không có khả năng hàn gắn được. Hiện nay anh K vẫn đang lao động tại Đài Loan và hiện nay chưa quay trở lại Việt Nam. Nay chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K đều xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên đều thỏa thuận và thống nhất lựa chọn Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho anh chị được thuận tình ly hôn.

Về con chung: Chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K đều thống nhất xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 23/10/2017. Khi ly hôn chị T và anh Kthống nhất thỏa thuận anh K sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K. Chị Nguyễn Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh K do anh K không yêu cầu. Trong thêi gian anh K ở nước ngoài, chị T anh K thỏa thuận bố mẹ đẻ anh K (Tức ông bà nội của cháu K) là ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; ĐKHKTT: Tổ dân phố 2 A, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội sẽ chăm sóc và nuôi dưỡng cháu K cho đến khi anh K về Viê ̣t Nam đón cháu.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự : Chị Nguyễn Kim T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Về chi phí giám định: Chị Nguyễn Kim T tự nguyện xin chịu toàn bộ chi phí giám định và đề nghị Tòa án không ghi nhận trong Quyết định.

Chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H trình bày: Hiện nay anh K và chị T đang tiến hành thủ tục công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ do có mâu thuẫn và bất đồng quan điểm sống. Việc kết hôn và ly hôn là quyền quyết định của anh chị nên ông bà không có ý kiến gì, ông bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong thời kỳ hôn nhân anh K và chị T có con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 23/10/2017. Khi ly hôn anh K và chị T thỏa thuận anh K sẽ trực tiếp chăm sóc cháu K. Tuy nhiên hiện nay anh K đang sinh sống, làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc) nên không thể trực tiếp nuôi dưỡng cháu K. Vì vậy vợ chồng anh K, chị T đã thỏa thuận và thống nhất tạm giao cháu K cho ông bà chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi anh K về Việt Nam đón cháu K. Quan điểm của ông bà là đồng ý thay anh K nuôi dưỡng cháu K. Trong thời gian ông bà nuôi cháu K, ông bà không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con, cũng không phải đóng góp bất kỳ chi phí gì. Ông bà đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật và xét xử vắng mặt ông bà.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 23/10/2017 cho anh Nguyễn Mạnh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh K do anh K không yêu cầu. Trong thêi gian anh K ở nước ngoài bố mẹ đẻ anh K (Tức ông bà nội của cháu K) là ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; ĐKHKTT: Tổ dân phố 2 A, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội sẽ chăm sóc và nuôi dưỡng cháu K cho đến khi anh K về Viê ̣t Nam đón cháu. Về lệ phí giải quyết việc dân sự, chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Kim T chịu toàn bộ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ đơn và lờ i khai của các đương sự và ý kiến đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ nhận định:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp. Do vợ chồng sống xa nhau thời gian dài, không có sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống gia đình nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K đều thuận tình ly hôn. Do vâ ̣y viê ̣c chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, được chấp nhận.

Trong hồ sơ thể hiện, hiện nay anh Nguyễn Mạnh K đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Tại văn bản số: 23307/QLXNC-P5 ngày 02/11/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an (BL 23) xác nhận “Có trường hợp Nguyễn Mạnh K, sinh ngày 17/02/1997 tại Hà Nội, CMND số 001097000709, khai hộ khẩu thường trú tại tổ 2, A, T, S, đã sử dụng hộ chiếu số C4827872 để xuất cảnh ngày 24/5/2022 qua cửa khẩu Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh”. Chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K có đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thống nhất lựa chọn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết. Hiện nay anh Nguyễn Mạnh K đang cư trú ở Đài Loan, chị Nguyễn Kim T hiện đang làm việc tại Công ty TNHH tư vấn và dịch vụ N; địa chỉ: Số nhà 175 đường Đ, tổ 20, khu 2B, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” và giải quyết, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền.

Anh K có đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai, đơn xin giải quyết vắng mặt. Theo yªu cÇu cña chị Nguyễn Kim T, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ giám định dấu vân tay trong đơn đề nghị mà anh Kgửi về. Căn cứ kết quả giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ (BL 43) đa kết luâ ̣̃

n:

02 dấu vân tay in trên “Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự; Bản tự khai; Đơn xin giải quyết vắng mặt”, ngày 30/9/2022 (Tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3) so với 02 dấu vân tay ngón trỏ phải, ngón trỏ tría in trên “Chứng minh nhân dân” số 001097000709, họ tên Nguyễn Mạnh K, sinh ngày 17/02/1997, nơi thường trú tổ dân phố 2, T, S, Hà Nội ngày 12/5/2014 là của cùng một người in ra.

Từ đó đủ cơ sở khẳng định việc anh Nguyễn Mạnh K thuận tình ly hôn với chị Nguyễn Kim T là hoàn toàn tự nguyện.

Về con chung: Chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K đều thống nhất xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 23/10/2017. Khi ly hôn chị T và anh K thống nhất thỏa thuận anh K sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K. Chị Nguyễn Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh K do anh K không yêu cầu. Trong thêi gian anh K ở nước ngoài bố mẹ đẻ anh K(Tức ông bà nội của cháu K) là ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; ĐKHKTT: Tổ dân phố 2 A, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội sẽ chăm sóc và nuôi dư ỡng cháu K cho đến khi anh K về Viê ̣t Nam đón cháu

Xét thấy việc thỏa thuận nuôi con chung của chị T và anh K phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận. Không ai được cản trở quyền gặp gỡ và thăm nom con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K xác định vợ chồng không có không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Việc tự nguyện nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Kim T là phù hợp với quy định của pháp luật được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 149, Điều 361, Điều 362, Điều 365, Điều 366, Điều 367, 369, Điều 370, Điều 371, Điều 397 và Điều 469 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K: Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 23/10/2017 anh Nguyễn Mạnh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên. Chị Nguyễn Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh K do anh K không yêu cầu. Trong thêi gian anh K ở nước ngoài bố mẹ đẻ anh K(Tức ông bà nội của cháu K) là ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; ĐKHKTT: Tổ dân phố 2 A, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội sẽ chăm sóc và nuôi dư ỡng cháu K cho đến khi anh K về Viê ̣t Nam đón cháu

Không ai được cản trở quyền gă ̣p gỡ và thăm nom con chung.

3. Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị Nguyễn Kim T và anh Nguyễn Mạnh K xác định không có nên không đặt ra giải quyết.

4. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Công nhận chị Nguyễn Kim T tự nguyện nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Xác nhận chị T đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí theo biên lai thu số AA/2020/0000357 ngày 22/11/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ