- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị N - Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của chị Bùi Thị N và anh Nguyễn Văn T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 50/2021/QĐST-HNGĐ | Hải Dương, ngày 16 tháng 11 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
V/v yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân và gia đình gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Thanh Tuấn.
Thư ký phiên họp: Ông Trần Hải Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thùy – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 214/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2021 về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn theo Quyết định mở phiên họp số 206/2021/QĐMPH-ST ngày 03 tháng 11 năm 2021:
Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình:
- Chị Bùi Thị N, sinh năm 1983
Địa chỉ: thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1967.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Nơi ở hiện nay: 58 Tunaley PDE, Reservoir, VIC 3037, Australia.
- Người được ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng cho anh T: Chị Nguyễn Thị Xuân T1, sinh năm 1976
Địa chỉ: Lô B1, KĐT Việt Hòa, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Các đương sự đều vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo đơn đề nghị và trong quá trình giải quyết, Chị N và anh T thống nhất trình bày:
Chị N và anh T có ba con chung là Nguyễn Trung Đ, sinh ngày 30/6/2007, cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 05/9/2011 và cháu Nguyễn Trâm A, sinh ngày 31/01/2015. Năm 2015, do mâu thuẫn, chị và anh T đã làm thủ tục ly hôn tại TAND TP Hải Dương. Theo quyết định của Tòa án, về con chung, anh T được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Trung Đ, sinh ngày 30/6/2007 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 05/9/2011, Chị N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Trâm A, sinh ngày 31/01/2015. Tuy nhiên hiện nay do tình hình dịch bệnh, Chị N không có công việc ổn định nên không đủ điều kiện để lo cho con ăn học được đầy đủ. Anh T hiện đang làm việc và sinh sống ổn định tại Úc và có mong muốn đón cháu Trâm A sang bên đó sống và học tập. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con, anh chị làm đơn đề nghị Toà án công nhận sự thỏa thuận giao con chung là cháu Nguyễn Trâm A, sinh ngày 31/01/2015 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu Trâm A đủ 18 tuổi trưởng thành. Việc thỏa thuận là tự nguyện nên đề nghị Tòa án công nhận. Anh T tự nguyện không yêu cầu Chị N cấp dưỡng tiền nuôi con. Chị N tự nguyện chịu cả lệ phí giải quyết việc HNGĐ sơ thẩm.
Do anh T đang lao động và làm việc tại Australia (Úc) không có mặt tại Việt Nam, nên đã gửi đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, thủ tục ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Xuân T1 là em dâu của anh T và đề nghị giải quyết vắng mặt có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Australia (Úc).
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giao văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị Xuân T1 là người nhận ủy quyền giao nhận các văn bản tố tụng thay anh T. Chị T1 xác định vẫn nhận ủy quyền của anh T giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.
Chị N, anh T, chị T1 có đơn xin vắng mặt tại phiên họp và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu thay đổi người nuôi con.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên họp, Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, căn cứ sự thỏa thuận của các bên đương sự, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của Chị N và anh T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, giao cho anh Nguyễn Văn T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Trâm A, sinh ngày 31/01/2015. Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của Chị N chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc HNGĐ sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:
Về tố tụng:
Chị N và anh T yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Anh T là người Việt Nam có hộ khẩu thường trú tại Hải Dương, hiện đang lao động ở Australia (Úc). Chị N cư trú ở tỉnh Hải Dương nên căn cứ khoản 3 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm i khoản 2 Điều 39 BLTTDS, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Các văn bản của anh T gửi về đều có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Australia (Úc) là đúng quy định nên được công nhận là hợp pháp.
Tại phiên họp vắng mặt Chị N và anh T. Chị N và anh T đều đề nghị giải quyết vắng mặt nên TAND tỉnh Hải Dương tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 367 BLTTDS.
Về nội dung: Chị N và anh T là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo quyết định số 107/2015/QĐST-HNGĐ ngày 16/4/2015 của TAND thành phố Hải Dương. Anh chị có 03 con chung là Nguyễn Trung Đ, sinh ngày 30/6/2007, cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 05/9/2011 và cháu Nguyễn Trâm A, sinh ngày 31/01/2015. Khi ly hôn, anh T được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Trung Đ, sinh ngày 30/6/2007 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 05/9/2011, Chị N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Trâm A, sinh ngày 31/01/2015 đến khi trưởng thành. Thỏa thuận này của anh chị đã được Tòa án công nhận nên Chị N là người có quyền trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Trâm A.
Xét thấy, Chị N đang gặp khó khăn về kinh tế, không đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ, đảm bảo cuộc sống tốt nhất về mọi mặt cho cháu Trâm A nên Chị N và anh T thống nhất giao cháu Trâm A cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T hiện đang làm việc và sinh sống ổn định tại Úc và có mong muốn đón cháu Trâm A sang bên đó sống và học tập. Thỏa thuận của Chị N và anh T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình nên cần chấp nhận. Anh T tự nguyện không yêu cầu Chị N cấp dưỡng tiền nuôi con nên cần chấp nhận.
Chị N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở và quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con.
Về lệ phí: Chị N tự nguyện chịu cả lệ phí hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm i khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Công nhận sự thỏa thuận của chị Bùi Thị N và anh Nguyễn Văn T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Giao cho anh Nguyễn Văn T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Trâm A, sinh ngày 31/01/2015 đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành.
Chị N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở và quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con.
Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu Chị N cấp dưỡng tiền nuôi con.
2. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị N về việc chịu cả lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, đối trừ với 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí do chị Bùi Thị N đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo biên lai số AA/2020/0004281 ngày 14/10/2021. Chị N đã nộp đủ.
Quyết định có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 16/11/2021.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh HD; - Cục THADS tỉnh HD; - UBND phường Cẩm Thượng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu tòa HC. | THẨM PHÁN Vũ Thanh Tuấn |