- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phạm Thị Bé H - Nguyễn Khánh D"
- Tòa quyết gì? Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 197/2022/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 376/2022/TLPT-DS ngày 24 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụn…
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 497/2023/QĐ-PT | Tiền Giang, ngày 08 tháng 9 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
HUỶ BẢN ÁN SƠ THẨM VÀ
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lê Huy.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Ánh Phương;
Bà Lâm Ngọc Tuyền.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án dân sự sơ thẩm số 197/2022/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo như sau:
Ngày 30/9/2022, nguyên đơn Phạm Thị Bé H có đơn kháng cáo với nội dung: yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại bản án, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà, xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà và gia đình bà.
XÉT THẤY:
Sự việc tranh chấp giữa ông Phạm Văn M và ông Nguyễn Văn C đối với thửa đất số 2487, tờ bản đồ số BDC1, diện tích 168m2 tại ấp N, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang đã được Ủy ban nhân dân huyện G thụ lý giải quyết năm 2000. Tại Quyết định số 1050/QĐ-UB ngày 10/11/2000, Ủy ban nhân dân huyện G bác đơn khiếu nại của ông Phạm Văn M (cha của bà Phạm Thị Bé H) và ông Nguyễn Văn C, thu hồi 168m2, số thửa 2487, tờ bản đồ BDC1 tại ấp N, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang, giao cho Ủy ban nhân dân xã B quản lý làm quỹ đất, xem xét đề xuất Ủy ban nhân dân huyện C2 lại cho hộ ông Nguyễn Văn C hoặc đối tượng khác có nhu cầu sử dụng. Ngày 04/5/2006, ông Nguyễn Văn C có đơn xin cấp quyền sử dụng thửa đất số 2487. Ngày 16/6/2006 Ủy ban nhân dân xã B có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân huyện G cấp quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C. Ngày 26/7/2006, Ủy ban nhân dân huyện G ban hành Quyết định số 940/QĐ-UBND giao thửa đất 2487 cho ông Nguyễn Văn C.
Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, bà Phạm Thị Bé H xác định khi hết thời hạn giải quyết khiếu nại, ông Phạm Văn M không khởi kiện tại Tòa án theo quy định tại Điều 39 Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998 và khoản 1 Điều 13 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996.
Theo Công văn số 1810/UBND ngày 10/7/2023 của Ủy ban nhân dân huyện G xác định không có tiếp nhận và giải quyết đơn khiếu nại của ông Phạm Văn M đối với Quyết định số 1050/QĐ-UB ngày 10/11/2000 về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn C với ông Phạm Văn M.
Như vậy, sự việc tranh chấp quyền sử dụng 168m2 đất thuộc thửa số 2487, tờ bản đồ số BDC1 tại ấp N, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang. Do vậy, đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Bé H thuộc trường hợp trả lại đơn kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự, trường hợp đã thụ lý vụ án thì phải đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không trả lại đơn khởi kiện (hoặc đình chỉ giải quyết vụ án) mà đưa vụ án ra xét xử là không đúng quy định của pháp luật.
Như phân tích trên, xét thấy cần căn cứ Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
Căn cứ vào Điều 217, khoản 4 Điều 308 và Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 197/2022/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 376/2022/TLPT-DS ngày 24 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giữa:
- Nguyên đơn: Phạm Thị Bé H, sinh năm 1958;
Địa chỉ: ấp T, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Nguyễn Khánh D, sinh năm 1980;
Địa chỉ: số H, Đường số A, Khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Phan Thị S, sinh năm 1940;
Địa chỉ: ấp N, xã B, thị xã G, Tiền Giang.
Phạm Chí T, sinh năm 1966;
Địa chỉ: ấp N, xã B, thị xã G, Tiền Giang.
Phạm Thị T1, sinh năm 1968;
Địa chỉ: ấp T, xã B, thị xã G, Tiền Giang.
Phạm Thu T2, sinh năm 1970;
Địa chỉ: ấp N, xã B, thị xã G, Tiền Giang.
Phạm Ngọc K, sinh năm 1977;
Địa chỉ: ấp N, xã B, thị xã G, Tiền Giang.
Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang;
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn S1 – Chủ tịch;
Địa chỉ: Nguyễn Văn C1, thị trấn T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Ủy ban nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang;
Đại diện theo pháp luật: Ông Giản Bá H1 – Chủ tịch;
Địa chỉ: T, Khu phố B, Phường B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
2. Về án phí:
Bà Phạm Thị Bé H là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm đối với bà Phạm Thị Bé H.
3. Về chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 5 Điều 157 và khoản 5 Điều 165, bà Phạm Thị Bé H phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND thị xã Gò Công, TG; - CCTHADS thị xã Gò Công, TG; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Huy |