vanban.org

Quyết định 49/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hồng K.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mƣời hai) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ (30/5/2019) để đƣa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3/ Ngƣời bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Hồng K"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hồng K.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
`TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Số: 49/QĐ – TA
Thủ Dầu Một, ngày 12 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Lê Minh Đạo.

2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Anh Duy.

Ngày 12 tháng 7 năm 2019, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 48/QĐ - TA ngày 08 tháng 7 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Lê Hồng K.

Giới tính: Nam.

Sinh ngày 01 tháng 02 năm 1978.

CMND số 0230xxxxx. Ngày cấp: 07/12/2011. Nơi cấp: Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 4/12

Nguyên quán: Tỉnh Đồng Tháp.

Hộ khẩu thƣờng trú: Đƣờng P1, Phƣờng x, Quận y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: Không có nơi cƣ trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: Không. Tiền sự: Không.

Con ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị M1.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1/ Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Duy V – Cán bộ Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M.

2/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một: Bà Lê Thị Thủy – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hồng K do Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M chuyển đến thể hiện:

Ngày 30/05/2019, Công an phƣờng P, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện Lê Hồng K sử dụng trái phép chất ma tuý. Căn cứ phiếu trả lời về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 30/5/2019 của Trung tâm Y tế thành phố M thể hiện: Lê Hồng K có nghiện ma túy, loại Heroin.

Do đó, Chủ tịch UBND phƣờng P đã ban hành Quyết định về việc lập hồ sơ đề nghị đƣa Lê Hồng K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Quyết định giao Lê Hồng K cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng quản lý.

Ngày 11/6/2019, Công an phƣờng P đã ban hành Thông báo số 08/TB - CAP vể việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thông báo đã đƣợc giao cho Lê Hồng K.

Ngày 04/7/2019, Trƣởng Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M đã ban hành văn bản số 388/LĐ.TBXH về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hồng K.

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M phát biểu quan điểm: Lê Hồng K đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Do không có nơi cƣ trú ổn định nên đề nghị Toà án đƣa Lê Hồng K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một phát biểu quan điểm: Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hồng K đúng theo qui định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình thụ lý giải quyết và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng theo các qui định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Do Lê Hồng K có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Bản thân Lê Hồng K không có nơi cƣ trú ổn định nên việc Trƣởng Phòng Lao động

- Thƣơng binh và Xã hội thành phố M đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp. Đề nghị Toà án chấp nhận theo lời đề nghị của Phòng lao động thƣơng binh xã hội.

Người bị đề nghị phát biểu: Ông Lê Hồng K sử dụng trái phép chất ma tuý từ năm 2018. Ngày 30/5/2019, Lê Hồng K bị công an phƣờng P phát hiện sử dụng trái phép chất ma tuý, loại Heroin. Lê Hồng K thống nhất với lời đề nghị của Phòng lao động thƣơng binh xã hội và không có ý kiến gì, cam kết sẽ không tiếp tục sử dụng và xin giảm nhẹ.

XÉT THẤY:

Do Lê Hồng K đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an phƣờng P lập biên bản vi phạm hành chính. Việc lập biên bản vi phạm hành chính của Công an phƣờng P đối với Lê Hồng K là phù hợp theo Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính, đƣợc hƣớng dẫn tại Điều 6 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Theo phiếu trả lời kết quả ngày 30/5/2019 của Trung tâm y tế thành phố M thể hiện Lê Hồng K có nghiện ma tuý, loại ma tuý là Heroin.

Lê Hồng K có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là ngày 30/5/2019 tính đến ngày Toà án mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa Lê Hồng K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu, theo qui định tại Điểm d Khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính, đƣợc hƣớng dẫn tại Điều 4 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Theo hồ sơ thể hiện Lê Hồng K có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại đƣờng P1, Phƣờng x, Quận y, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, qua tra cứu hiện Công an Phƣờng x, Quận y, Thành phố Hồ Chí Minh xác định tuy Khanh có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại địa chỉ trên nhƣng không thực tế cƣ trú tại địa phƣơng từ 2008 đến nay. Mặt khác Công an phƣờng P cũng xác nhận Lê Hồng K không cƣ trú trên địa bàn khu phố a, phƣờng P, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng. Do đó có căn cứ xác định Lê Hồng K không có nơi cƣ trú ổn định theo Điều 2 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Xét thấy, Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hồng K là phù hợp theo qui định tại Điều 95, 96 và Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính, các Điều 8, 9, 10 và Điều 11 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Hồ sơ đã đƣợc Trƣởng phòng tƣ pháp kiểm tra và xác định hồ sơ đã đảm bảo tính pháp lý, theo qui định tại Điều 12 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Hồng K xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con ngƣời cũng nhƣ ảnh hƣởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những tội phạm hình sự khác. Do đó, cần thiết phải đƣa Lê Hồng K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để chữa bệnh, lao động, học văn hóa và học nghề nhằm giúp Lê Hồng K trở thành ngƣời tốt và có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Lê Hồng K có thái độ thành khẩn khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại Khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hồng K trong thời gian 12 tháng đến 15 tháng là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hồng K.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mƣời hai) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ (30/5/2019) để đƣa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3/ Ngƣời bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Quyết định đƣợc công bố.

4/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5/ Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ