vanban.org

Quyết định 49/2021/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 16/11/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của anh Phan Hữu Đ và chị Nguyễn Thị X về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Anh Đ có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở và quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con. Chấp nhận sự tự nguyện của chị X không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con — án hôn nhân và gia đình — "Phan Hữu Đ - Nguyễn Thị X"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của anh Phan Hữu Đ và chị Nguyễn Thị X về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 49/2021/QĐST-HNGĐHải Dương, ngày 16 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

V/v yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân và gia đình gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Thanh Tuấn.

Thư ký phiên họp: Ông Trần Hải Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thùy – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 215/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2021 về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn theo Quyết định mở phiên họp số 205/2021/QĐMPH-ST ngày 03 tháng 11 năm 2021:

Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình:

- Anh Phan Hữu Đ, sinh năm 1982

Địa chỉ: Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

- Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1983.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Nơi ở hiện nay: Hàn Quốc.

- Người được ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng cho chị X: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; địa chỉ: Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Các đương sự đều vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Theo đơn đề nghị và trong quá trình giải quyết, anh Đ và chị X thống nhất trình bày:

Chị X và anh Đ có hai con chung là Phan Thị Anh T1, sinh ngày 30/4/2004 và Phan Tuấn A, sinh ngày 02/01/2006. Năm 2011, do mâu thuẫn, hai vợ chồng anh Đ và chị X đã làm thủ tục ly hôn tại TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Theo quyết định của Tòa án, về con chung, chị X được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phan Thị Anh T1, sinh ngày 30/4/2004, anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phan Tuấn A, sinh ngày 02/01/2006, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Tuy nhiên hiện nay anh Đ thường xuyên phải đi làm ăn xa, không có điều kiện ở gần để trực tiếp nuôi dạy cháu A. Bà nội cháu cũng đã nhiều tuổi, không thể hỗ trợ anh Đ trong việc chăm sóc cháu. Mặt khác, tháng 6/2021, chị X đã đón cháu A sang bên Hàn Quốc chơi, mẹ con gặp nhau tình cảm gắn bó không rời. Cháu A cũng có nguyện vọng muốn được tiếp tục ở lại Hàn Quốc cùng mẹ. Chị X hiện nay đã có công việc ổn định, cuộc sống đầy đủ tại Hàn Quốc, đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A và cũng có mong muốn để cháu A ở lại Hàn Quốc sống và học tập. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con, anh chị làm đơn đề nghị Toà án công nhận sự thỏa thuận giao con chung là cháu Phan Tuấn A, sinh ngày 02/01/2006 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu A đủ 18 tuổi trưởng thành. Việc thỏa thuận là tự nguyện nên đề nghị Tòa án công nhận. Chị X tự nguyện không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh Đ tự nguyện chịu cả lệ phí giải quyết việc HNGĐ sơ thẩm.

Do chị X đang lao động và làm việc tại Hàn Quốc không có mặt tại Việt Nam, nên đã gửi đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, thủ tục ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ của chị X và đề nghị giải quyết vắng mặt có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giao văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị T là người nhận ủy quyền giao nhận các văn bản tố tụng thay chị X. Bà T xác định vẫn nhận ủy quyền của chị X giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Anh Đ, chị X, bà T có đơn xin vắng mặt tại phiên họp và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu thay đổi người nuôi con.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên họp, Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, căn cứ sự thỏa thuận của các bên đương sự, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Đ và chị X về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, giao cho chị Nguyễn Thị X là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phan Tuấn A, sinh ngày 02/01/2006. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Đ chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc HNGĐ sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

Về tố tụng:

Anh Đ và chị X yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Chị X là người Việt Nam có hộ khẩu thường trú tại Hải Dương, hiện đang lao động ở Hàn Quốc. Anh Đ cư trú ở tỉnh Hải Dương nên căn cứ khoản 3 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm i khoản 2 Điều 39 BLTTDS, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Các văn bản của chị X gửi về đều có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc là đúng quy định nên được công nhận là hợp pháp.

Tại phiên họp vắng mặt anh Đ và chị X. Anh Đ và chị X đều đề nghị giải quyết vắng mặt nên TAND tỉnh Hải Dương tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 367 BLTTDS.

Về nội dung: Anh Đ và chị X là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo quyết định số 24/2011/QĐST-HNGĐ ngày 29/3/2011 của TAND huyện Tứ Kỳ. Anh chị có 02 con chung là cháu Phan Thị Anh T1, sinh ngày 30/4/2004 và cháu Phan Tuấn A, sinh ngày 02/01/2006. Khi ly hôn, chị X được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phan Thị Anh T1, sinh ngày 30/4/2004 đến khi cháu Thư đủ 18 tuổi trường thành, còn anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phan Tuấn A, sinh ngày 02/01/2006 đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành.

Xét thấy, anh Đ đang gặp khó khăn về kinh tế, không đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ, đảm bảo cuộc sống tốt nhất về mọi mặt cho cháu A nên anh Đ và chị X thống nhất thỏa thuận giao cháu A cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng. Chị X hiện đang làm việc và sinh sống ổn định tại Hàn Quốc và có mong muốn để cháu A ở lại Hàn Quốc sinh sống và học tập. Thỏa thuận của anh Đ và chị X là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình nên cần chấp nhận. Chị X tự nguyện không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con nên cần chấp nhận.

Anh Đ có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở và quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con.

Về lệ phí: Anh Đ tự nguyện chịu cả lệ phí hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm i khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Công nhận sự thỏa thuận của anh Phan Hữu Đ và chị Nguyễn Thị X về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Giao cho chị Nguyễn Thị X là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phan Tuấn A, sinh ngày 02/01/2006 đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành.

Anh Đ có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở và quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con.

Chấp nhận sự tự nguyện của chị X không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con.

2. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Phan Hữu Đ về việc chịu cả lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, đối trừ với 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí do anh Phan Hữu Đ đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo biên lai số AA/202020/0004284 ngày 14/10/2021. Anh Đ đã nộp đủ.

Quyết định có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 16/11/2021.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ