vanban.org

Quyết định 48/2023/QĐ-TA

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 02/06/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phạm Minh T là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Phạm Minh T được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết địn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Phạm Minh T - cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T.
  • Căn cứ chính? Luật Phòng, chống ma túy; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ X

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 48/2023/QĐ-TA
X, ngày 02 tháng 6 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X, TỈNH AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thùy Giang

2. Thư ký phiên họp: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc

Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 48/2023/QĐ-TA ngày 24 tháng 5 năm 2023, đối với:

Họ và tên: Phạm Minh T;

Giới tính: nam;

Sinh ngày: 28 tháng 4 năm 2004;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: đạo Phật;

Trình độ văn hóa: 03/12;

Nghề nghiệp: Làm thuê;

Nơi đăng ký thường trú: ấp Mỹ A, xã MHH, thành phố X, tỉnh An Giang;

Nơi cư trú hiện nay: không có nơi cư trú ổn định;

Số định danh cá nhân, chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân: 08920406714

Con ông Nguyễn Văn Th và bà Phạm Thị Ngọc Ng;

Tiền án: Ngày 11 tháng 11 năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố X xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18 tháng 01 năm 2023;

Tiền sự: Ngày 18 tháng 3 năm 2023, bị Ủy ban nhân dân xã MHH xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;

Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Tô Thanh Tùng – Công chức Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố X (theo văn bản ủy quyền của Trưởng phòng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố X).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X: Ông Kiều Văn Liêu – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Hồi 08 giờ 00 phút ngày 25 tháng 4 năm 2023, Công an xã MHH, thành phố X, tỉnh An Giang đã mời Phạm Minh T để thử Test tìm chất ma túy, kết quả dương tính với Methamphetamine (còn gọi là ma túy đá). Quá trình thẩm vấn tại Công an xã MHH, Minh T thừa nhận có sử dụng ma túy đá trái phép. Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Trung tâm y tế thành phố X kết luận Minh T nghiện Methamphetamine. Biên bản xác minh về tình trạng cư trú của người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại Văn phòng ấp Mỹ A thể hiện: Phạm Minh T là đối tượng mới được tha tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, không chịu tìm kiếm việc làm để hòa nhập cộng đồng, thường xuyên bỏ địa phương không rõ đi đâu và làm gì. Như vậy, tại thời điểm Công an xã MHH mời thử Test tìm chất ma túy thì Minh T thuộc diện sống không nơi cư trú ổn định.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, Ủy ban nhân dân xã MHH ban hành Quyết định giao Minh T cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 04 tháng 5 năm 2023, sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã MHH có Công văn đề nghị đưa Minh T đi cai nghiện ma túy bắt buộc.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố X vẫn giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp đưa Phạm Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang với thời hạn 24 tháng.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: (1) Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị. Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã thực hiện đúng quy định theo Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2023. (2) Việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Phạm Minh T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Về tình tiết giảm nhẹ: Minh T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Tình tiết tăng nặng: Minh T đã từng bị xử phạt hình sự, xử lý hành chính về các hành vi liên quan đến ma túy, nhưng lại tái phạm nên cần phải áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). (3) Do đó, căn cứ các Điều 95, 96, 103; khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T, thời hạn áp dụng từ 16 tháng đến 18 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung phát biểu của đại diện Cơ quan đề nghị, ý kiến của người bị đề nghị và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X, xét thấy:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố X đối với Phạm Minh T thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục tại các Điều 6, 96, 103 và Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Về nhân thân: Căn cứ hồ sơ và lời khai của Phạm Minh T đã đủ cơ sở xác định Phạm Minh T có tiền án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, là đối tượng sử dụng ma túy trong thời gian dài.

Về hành vi vi phạm pháp luật: Lời khai của Phạm Minh T trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp phù hợp với các kết quả xét nghiệm ma túy; kết quả xác minh nơi cư trú; biên bản vi phạm hành chính. Có đủ căn cứ xác định Phạm Minh T là người trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, không có nơi cư trú ổn định, đã từng bị xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nay lại tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 25 tháng 4 năm 2023 và bị phát hiện. Do đó, cần có thời gian hỗ trợ cai nghiện để hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, đề nghị của Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố X về việc đưa Phạm Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) nên được chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Phạm Minh T đang có tiền án và tiền sự về những hành vi liên quan đến ma túy; nhưng lại không kiềm chế được bản thân mà tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, vi phạm pháp luật, nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Tuy nhiên, quá trình lập hồ sở xử lý và tại phiên họp xét thấy Minh T có tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, thể hiện mong muốn cai nghiện, nên cần được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), để xét giảm nhẹ cho Minh T khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Căn cứ:

- Điều 6; khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; các Điều 95, 96, 103, 104, 105, 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Các Điều 22, 23, 30, 31, 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Điều 43 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phạm Minh T là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Phạm Minh T được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố X có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố X có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp với Công an thành phố X đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ