- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 04/7/1987; Nơi thường trú: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 109/2021/NĐ-CP Quy định cơ sở y tế đủ điều kiện…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 47/2024/QĐ-TA | TP. Thái Nguyên, ngày 22 tháng 02 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà Dương Thị Liên
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2024 tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 35/QĐ-TA ngày 15/02/2024, đối với:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 04/7/1987;
Nơi thường trú: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.Nơi ở hiện tại: Lang thang, không có nơi cư trú ổn định; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông: Nguyễn Ngọc T1 (đã chết), con bà: Trần Thị B, sinh năm 1956; vợ, con chưa có.
Tiền án: 01 năm 2020 Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tiền sự: Không; Được giao quản lý tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên từ ngày 18/01/2024 đến nay (Có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị:Bà Đồng Thị H - Chức vụ: Phó Phòng Lao động
- Thương binh và Xã hội thành phố T.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Bà Diệp Thị Hương - Chức danh: Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Theo hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Nguyễn Ngọc T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2008 đến nay chưa cai bỏ được, loại ma túy sử dụng là heroine, hình thức sử dụng là chích ma tuý vào cơ thể.
Ngày 18/01/2024 tại khu vực tổ B, phường G, thành phố T, tổ công tác của Công an phường G làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát thì phát hiện 01 nam thanh niên khoảng 30 tuổi đang đi lang thanh tại khu vực tổ B, có biểu hiện liên quan đến ma tuý, nên đã mời làm việc để kiểm tra hành chính. Nam thanh niên khai nhận là Nguyễn Ngọc T, có HKTT tại Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc là người nghiện ma tuý. Sáng ngày 18/01/2024 khoảng 9 giờ 50 phút, tại khu vực đường dân sinh, thuộc tổ B, phường G, Nguyễn Ngọc T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bằng hình thức chích. Sau khi sử dụng xong thì bị công an phát hiện, Công an phường G kiểm tra và tiến hành xét nghiệm ma túy. Kết quả xét nghiệm thể hiện Nguyễn Ngọc T: Dương tính (+) với ma túy (Heroine). Công an phường G, thành phố T đã tiến hành lập biên bản sự việc về hành vi vi phạm của Nguyễn Ngọc T. Do Nguyễn Ngọc T là đối tượng lang thang, không có nơi cư trú ổn định, công an phường G đã lập hồ sơ đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Nguyễn Ngọc T, đồng thời Chủ tịch UBND phường G, thành phố T đã có quyết định giao cho Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiếu trả lời xác minh và Biên bản làm việc về việc xác định nơi cư trú của anh Nguyễn Ngọc T ngày 28/01/2024 của Công an xã P, huyện B, tinh V, thể hiện Nguyễn Ngọc T không có nơi cư trú ổn định.
Tại Phiếu trả lời kết quả xác minh tình trạng nghiện ma túy ngày 23/01/2024 của Trạm y tế phường G, thành phố T, xác định Nguyễn Ngọc T nghiện ma túy loại Heroine.
Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, Công an phường G, thành phố T đã thông báo, giải thích cho T về đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại Điều 28 Nghị định 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Tuy nhiên, hết thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả xác định nghiện ma túy, T không tiến hành việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Do vậy, ngày 30/01/2024, Công an phường G, thành phố T đã lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Nguyễn Ngọc T.
Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ và thông báo Nguyễn Ngọc T về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Ngày 02/02/2024, UBND phường G đã có văn bản đề nghị Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố T xem xét đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc T.
Tại văn bản số 82/ĐN-CNBB ngày 02/02/2024 của Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố T đã đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc T tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị áp dụng, trình bày quan điểm giữ nguyên quan điểm đề nghị tại văn bản số 81/ĐN-CNBB ngày 02/02/2024 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, đồng thời đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc T, tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên, với thời hạn từ 15 đến 18 tháng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết Tòa án đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật,đề nghị Toà án: Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 106 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Nghị định 109/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy và hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy.
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với Nguyễn Ngọc T với thời hạn là từ 15 đến 18 tháng.
- Ý kiến trình bày của người bị đề nghị áp dụng: Tại phiên họp, Nguyễn Ngọc T đã xác định là người nghiện mà túy từ năm 2008, nhưng đến nay chưa bỏ được ma túy, loại ma túy T sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng ma túy là chích vào cơ thể, mỗi ngày sử dụng ma túy một lần, mỗi lần dùng 100.000đ, lần gần đây nhất là sáng ngày 18/01/2024. Sau khi được Công an phường G thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, T đã không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định; việc phường G và Phòng lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc T là đúng quy định của pháp luật; đề nghị Toà án xem xét áp dụng biên pháp cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc T với thời hạn ngắn nhất.
XÉT THẤY
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có tại hồ sơ đề nghị và ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, cơ quan lập hồ sơ và Kiểm sát viên tham gia phiên họp thấy rằng:
[1]. Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bổ sung năm 2020; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
[2]. Về thời hiệu: Ngày 18/01/2024, Công an phường G, thành phố T kiểm tra tình trạng sử dụng chất ma túy đối với Nguyễn Ngọc T, kết quả cho thấy Nguyễn Ngọc T dương tính với H1. Nguyễn Ngọc T xác định lần sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 18/01/2024. Như vậy, tính kể từ Nguyễn Ngọc T thực hiện hành vi vi phạm lần cuối đến thời điểm Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu quy tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
[3]. Về thành phần hồ sơ và trình tự, thủ tục đề nghị áp dụng: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc T đảm bảo và thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 40, 41, 42 và Điều 43 của Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Nghị định 109/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy và hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy.
[4]. Về đối tượng bị đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Bản thân Nguyễn Ngọc T là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên và không có nơi cứ trú ổn định, hết thời hạn quy định T không đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Do vậy, theo quy định tại Điều 5, Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy, Nguyễn Ngọc T là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Nguyễn Ngọc T không phải chịu tình tiết tặng nặng nào và được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện khai báo về hành vi vi phạm của mình với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Xét tính chất mức độ của hành vi vi phạm hành chính, các yếu tố về nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ vi phạm hành chính, thấy cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc T một thời gian nhất định, để Nguyễn Ngọc T được chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, lao động, học tập để sớm hoà nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội; Mức đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Nguyễn Ngọc T của Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố T và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 3, Điều 5, khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, 96, 105, 106 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bổ sung năm 2020; Khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Nghị định 109/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy và hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 04/7/1987; Nơi thường trú: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Chỗ ở: Lang thang, không có nơi cư trú ổn định.
Tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên; địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
2. Thời hạn chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ ngày người phải chấp hành quyết định bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời gian quản lý tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên từ ngày 18/01/2024 đến thời điểm người có thẩm quyền đưa đối tượng bị áp dụng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được trừ vào thời hạn cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố T chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đưa người đi thi hành Quyết định; Cơ sở cai nghiện Đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Công an thành phố Thái Nguyên; - Phòng Lao động TB&XH Tp. Thái Nguyên; - Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên; - UBND, Công an phường Gia Sàng, TPTN; - Công an phường Phú Xuân, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ, Tòa HS. | THẨM PHÁN Dương Thị Liên |