- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định việc dân sự Đinh Thị Y - Lưu Hải Q"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Chị Đinh Thị Y và Anh Lưu Hải Q.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 47/2022/QĐST- HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 28 tháng 5 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Đào
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 130/2021/TLST-HNGĐ ngày 05/11/2021 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 23/2022/QĐ-TA ngày 13/4/2022 bao gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
1. Chị Đinh Thị Y, sinh năm 1988; Tổ dân phố 1, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.
2. Anh Lưu Hải Q, sinh năm 1986; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của Chị Đinh Thị Y trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Y và Anh Lưu Hải Q đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 07/01/2008 tại Ủy ban nhân dân thị trấn N (nay là thị trấn T), huyện N, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do kinh tế gia đình khó khăn, sau khi kết hôn chị Y đi xuất khẩu lao động tại Dubai còn anh Q đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, cũng từ thời gian đó đến nay vợ chồng chưa gặp lại nhau dẫn đến tình cảm phai nhạt, vợ chồng không còn quan tâm, tin tưởng lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng nên chị Yyêu cầu được ly hôn với anh Q để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 con chung là Lưu Hải Đ, sinh ngày 08/4/2008 và Lưu Đình Khoa, sinh ngày 15/8/2012. Chị Ycó nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Lưu Hải Đ đến tuổi trưởng thành và đồng ý giao con chung Lưu Đình K cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đến tuổi trưởng thành. Hai bên không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Trong thời gian anh Q chưa về Việt Nam chị đồng ý để bố mẹ đẻ anh Q chăm sóc nuôi dưỡng cháu Khoa cho đến khi anh Q về Việt Nam.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Anh Lưu Hải Q trình bày thống nhất như nội dung trình bày của Chị Đinh Thị Y về quan hệ hôn nhân, con chung cũng như tài sản chung. Về quan hệ hôn nhân: Anh Q nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị Yyêu cầu ly hôn anh đồng ý. Về con chung: Anh Q và chị Ythống nhất giao con chung Lưu Hải Đ cho chị Y trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; giao con chung Lưu Đình K cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Trong thời gian anh Q chưa về nước, chị Yvà anh Q đồng ý để cho bố mẹ đẻ anh Q chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Khoa cho đến khi anh Q về nước. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu câu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, hiện nay anh Q đang lao động tự do tại Đài Loan nên không thể cung cấp địa chỉ cụ thể cho Tòa án được đồng thời do điều kiện công việc cũng như dịch bệnh phức tạp nên không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn nên anh yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết việc ly hôn, anh Q ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho ông Lưu Hải Q (bố đẻ anh Q) địa chỉ: Thôn 3, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
Ông Lưu Hải Q (bố đẻ anh Q) trình bày do hiện nay anh Q đang lao động tại Đài Loan nên ông tự nguyện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lưu Đình K cho đến khi anh Q về Việt Nam và đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, ông cam đoan sẽ thông báo cho anh Q được biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Thủ tục tố tụng:
Anh Lưu Hải Q hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Theo thông tin cung cấp của Cục quản lý xuất nhập cảnh- Bộ công an số 30772/QLXNC-P5 ngày 14 tháng 12 năm 2021 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh thì Anh Lưu Hải Q đã xuất, nhập cảnh, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015. Anh Q ủy quyền giao nhận tài liệu cho ông Lưu Hải Q (bố đẻ anh Q) địa chỉ: Thôn 3, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt Anh Lưu Hải Q theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Y và Anh Lưu Hải Q đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 07/01/2008 tại Ủy ban nhân dân thị trấn N (nay là thị trấn T), huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của Chị Đinh Thị Y và Anh Lưu Hải Q hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do cuộc sống kinh tế khó khăn nên sau khi kết hôn, chị Yđi Dubai lao động, còn anh Q đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, cũng từ đó đến nay vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không gặp lại nhau dẫn đến dẫn đến tình cảm không còn, mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình không đạt được. Nay, chị Yvà anh Q đều tự nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân của Chị Đinh Thị Y và Anh Lưu Hải Q không đạt được mục đích đó.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).
Như vậy, Chị Đinh Thị Y và Anh Lưu Hải Q đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 con chung là Lưu Hải Đ, sinh ngày 08/4/2008 và Lưu Đình K, sinh ngày 15/8/2012. Chị Đinh Thị Y và Anh Lưu Hải Q thống nhất giao con chung Lưu Hải Đ cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và giao con chung Lưu Đình K cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đến tuổi trưởng thành. Hai bên không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Trong thời gian anh Q chưa về Việt Nam chị Yvà anh Q đồng ý để bố mẹ đẻ anh Q chăm sóc nuôi dưỡng cháu Khoa cho đến khi anh Q về Việt Nam. Xét thấy sự thỏa thuận này của các đương sự là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên cần căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu xem xét nên Tòa án miễn xét.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Chị Đinh Thị Y và Anh Lưu Hải Q.
2. Về con chung: Giao con chung Lưu Hải Đ, sinh ngày 08/4/2008 cho chị Đinh Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; giao con chung Lưu Đình K, sinh ngày 15/8/2012 cho Anh Lưu Hải Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đến tuổi trưởng thành. Hai bên không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau và có quyền đi lại thăm nom con chung không được ai ngăn cản. Trong thời gian Anh Lưu Hải Q chưa về Việt Nam, ông Lưu Hải Q (bố đẻ anh Q) chăm sóc nuôi dưỡng cháu Lưu Đình K cho đến khi anh Q về Việt Nam.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của Chị Đinh Thị Y (đã nộp 300.000đ tại biên lai số 0000044 ngày 05/11/2021 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND thị trấn T; - Đương sự ; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Bích Đào |