- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận các đương sự"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Tếnh Thị G, sinh năm 1974 và anh Thào Lao X, sinh năm 1974.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 47/2017/QĐST-HNGĐ. | Yên Châu, ngày 08 tháng 8 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU. Căn cứ hồ sơ dân sự thụ lý số 55/2017/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2017, giữa: Nguyên đơn (Chị) Tếnh Thị G, sinh năm 1974. Địa chỉ: Bản C, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Bị đơn (anh) Thào Lao X, sinh năm 1974. Địa chỉ: Bản C, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 24 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm và sử dụng án phí lê phí Tòa án; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và biên bản hòa giải thành lập ngày 01 tháng 8 năm 2017.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận tự nguyện ly hôn và biên bản hòa giải thành ngày 01 tháng 8 năm 2017 là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Tếnh Thị G, sinh năm 1974 và anh Thào Lao X, sinh năm 1974. 2. Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về tài sản chung: Anh X và chị G thống nhất giao cho anh Thào Lao X toàn bộ tài sản như sau: + 01 nhà gỗ 3 giam 2 trái lợp Proxi măng + gian bếp bằng gỗ (nhà và công trình đã cũ) dựng ở khu trung tâm bản C đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Thào A X; Có giá trị 10.000.000 đồng + 01 con trâu mẹ; giá trị 18.000.000 đồng. + 01 con dê cái to lông mầu đỏ và 01 con dê con mầu đỏ; có giá trị 1.100.000 đồng. + 03 con lợn nhỏ; có giá trị 1.500.000 đồng. + 01 con chó cái to và 01 con chó cái nhỏ; có giá trị 700.000 đồng; + 01 chiếc xe máy HODA màu đỏ có giấy đăng ký mang tên Thào A X; giá trị 7.000.000 đồng; + 01 két sát; giá trị 1.000.000 đồng; + 01 bình phun cỏ; giá trị 500.000 đồng. + 01 giường to để trên nhà chị G và 01 giường trong nhà anh X đã cũ; giá trị 800.000 đồng. + 01 bộ bàn ghế gỗ đã qua sử dụng; trị giá 400.000 đồng; + 01 loa nhỏ + đầu đĩa đã qua sử dụng; trị giá 500.000 đồng; + 45 tấm ván; trị giá 900.000 đồng; + 01 mảnh nương ở bản Co lắc giáp nhà Thào Lao T (đã chết) trồng hết 2kg ngô giống; trị giá 3.000.000 đồng; + 01 mảnh nương tại khu C (Tháp Đ) trồng hết 18 kg ngô giống; trị giá 20.000.000 đồng; + 01 mảnh nương do bố mẹ X cho ở bản C (trồng hết 6 kg ngô giống); trị giá 8.000.000 đồng; + 01 mảnh nương ở bản C sau nhà bà nội (trồng hết 3 kg ngô giống); trị giá 5.000.000 đồng; Tổng giá trị tài sản anh Thào Lao X được chia là 72.100.000 đồng. Giao cho chị Tếnh Thị G tài sản: + 01 nhà gỗ 3 giam 2 trái lập Proxi măng, 01 gian bếp bằng gỗ, 01 chuồng lợn, 01 chuồng gà, chuồng trâu dựng trên đất của bà ngoại và đồ dùng sinh hoạt trong gia đình như bát đũa, xong nồi đã qua sử dụng cũ; tổng trị giá 20.000.000 đồng; + 01 con trâu đực con; trị giá 8.000.000 đồng; + 01 con dê cái to lông mầu đen trắng và 02 con dê con mầu đen trắng; trị giá 1.200.000 đồng; + 01 con lợn cái to và 01 con nhỏ; trị giá 2.000.000 đồng; + 01 con chó cái nhỏ; trị giá 200.000 đồng; + 01 chiếc xe máy Way đã qua sử dụng cũ, có giấy đăng ký mang tên Thào A X; trị giá 7.000.000 đồng; + 01 máy cưa gỗ; trị giá 2.000.000 đồng; + 01 máy sát thóc; trị giá 2.000.000 đồng; + 01 giường to để trên nhà chị G và 01 giường nhỏ đã qua sử dụng cũ; trị giá 1.500.000 đồng; + 01 bộ bàn ghế nhựa; trị giá 500.000 đồng; + 01 đầu thu ti vi (chảo); trị giá 300.000 đồng; + 40 tấm ván; trị giá 800.000 đồng; + 01 mảnh nương ở khu cây trúc (trồng hết 10kg ngô giống); trị giá 15.000.000 đồng; + 01 mảnh nương ở đề A (trồng hết 5kg ngô giống); trị giá 7.000.000 đồng; + 01 mảnh nương ở khu (đồi cây dương sỉ) trồng hết 8 kg ngô giống; trị giá 9.000.000 đồng; + 01 mảnh nương ở khu (đồi cây dương sỉ) trồng hết 5 kg ngô giống; trị giá 7.000.000 đồng; Tổng giá trị tài sản chị Tếnh Thị G được chia là 54.000.000 đồng. Số dây điện và tổng số con gà hiện còn, anh X và chị G tự chia đôi vào ngày 9 tháng 8 năm 2017, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cây cối và tài sản hoa màu khác được trồng trên đất được chia cho người nào thì người đó được toàn quyền sở hữu và sử dụng.
- Về nợ chung: Không có.
- Về con chung: Cháu lớn đã xây dựng gia đình, còn 2 cháu hiện nay đang học chuyên nghiệp (đều đã trên 18 tuổi), nguyện vọng các cháu ở với ai là quyền của các cháu.
- Về án phí: Chị Tếnh Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) và án phí theo giá ngạch đối với phần tài sản được chia là 1.350.000 đồng, tổng cộng 2 khoản là 1.500.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền dự phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 04039 ngày 13/7/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, Chị Tếnh Thị G phải nộp tiếp là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Anh Thào Lao X phải chịu án án phí theo giá ngạch đối với phần tài sản được là 1.802.500 đồng. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - TAND tỉnh Sơn La; - Chi Cục thi hành án huyện; - Các đương sự; - UBND xã C; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Tráng A Tếnh |