vanban.org

Quyết định 46/QĐ-TA

TAND TX. Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái Tuyên án 14/06/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức N.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày Trần Đức N bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Địa chỉ chấp hành Quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái: Tổ 13, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức N.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHĨA LỘ
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 46/QĐ-TANghĩa Lộ, ngày 14 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lê Thị Hồng Hạnh

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Bắc.

Ngày 14/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 46/QĐ-TA ngày 07/6/2024 đối với:

Họ và tên: Trần Đức N; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; sinh ngày 07/9/2001. CCCD số: 015201000394; ngày cấp: 13/4/2021; nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH – Bộ Công an. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nguyên quán: huyện Thường Tín, TP Hà Nội. Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: phường P, thị xã Ngh, tỉnh Yên Bái.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tiền án, Tiền sự: Không.

Con ông Trần Văn L và bà Nguyễn Tố Ng

Vắng mặt tại phiên họp

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hà Văn Tuấn - Phó trưởng Phòng Lao động Thương binh & Xã hội thị xã Nghĩa Lộ. (QĐ phân công số 240/QĐ-LĐTBXH ngày 13/6/2024)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ: Ông Hà Lập Phương - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Trần Đức N sử dụng ma túy từ năm 2018, loại ma túy đá và cỏ Tabaco với hình thức là hút vào cơ thể. Ngày 23/4/2024 bị UBND phường Pú Trạng ra quyết định số 19/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy với thời gian 01 năm. Ngày 10/5/2024 Công an phường phối hợp với Trạm y tế tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của N cho kết quả dương tính. Ngày 16/5/2024 Trạm y tế có văn bản trả lời xác định Năm nghiện ma túy.

Tại bản tường trình và biên bản làm việc N đều thừa nhận bản thân sử dụng ma túy loại đá từ năm 2018 đến nay tháng nào cũng sử dụng, ngoài ra N sử dụng ma túy dạng cỏ TABACO hàng ngày. Lần sử dụng gần nhất là sáng ngày 10/5/2024 với hình thức hút vào cơ thể. Bản thân N nhận thức được việc sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng chưa từ bỏ được. Ngày 15/5/2024 bà Nguyễn Tố Ng (là mẹ đẻ N) có đơn đề nghị lập hồ sơ đưa N đi cai nghiện với lý do N sử dụng ma túy thường xuyên, sau khi sử dụng có hành vi kích động, đánh người thân, đập phá tài sản trong gia đình.

Công an phường Pú Trạng đã ra thông báo về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng hết thời hạn quy định N không đăng ký nên đã bị lập biên bản vi phạm.

Ngày 29/5/2024 Công an phường đã lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và ngày 03/6/2024 UBND phường có văn bản đề nghị Phòng lao động thương binh xã hội thị xã Nghĩa Lộ để kiểm tra tính pháp lý, thẩm định thủ tục hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Văn bản đề nghị số 231/ĐN-CNBB ngày 04/6/2024 và tại phiên họp đại diện phòng Lao động, Thương binh và xã hội thị xã Nghĩa Lộ đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái theo quy định của pháp luật, thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ có ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Trần Đức N đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đề nghị TAND thị xã Nghĩa Lộ giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.

XÉT THẤY:

Ngày 05/6/2024 Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ thụ lý hồ sơ số 46/2024/XLHC, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý hồ sơ và Quyết định mở phiên họp cho Trần Đức N hợp lệ, nhưng N vắng mặt tại phiên họp không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022, Toà án tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã bảo đảm tính hợp pháp và đầy đủ, theo quy định tại Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của người bị đề nghị: Trần Đức N là người có nơi cư trú ổn định, sử dụng trái phép chất ma túy loại ma túy đá và cỏ TABACO từ năm 2018 đến nay. Khi đang trong thời gian bị quản lý tại địa phương theo QĐ 19/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng N vẫn thường xuyên sử dụng chất ma túy hàng ngày, không đăng ký cai nghiện tự nguyện. N là người thành niên nhận thức rõ được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, có những tác động xấu đến bản thân, gia đình và xã hội nhưng vì không kiên quyết từ bỏ ma túy nên đến nay vẫn lệ thuộc vào ma túy thường xuyên sử dụng với tần suất cao. Hành vi đó của N đã vi phạm vào khoản 5 Điều 5 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Do đó, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

Về nhân thân: N là người không có tiền án tiền sự nhưng lười lao động, không có công việc ổn định, thường xuyên sử dụng ma túy thể hiện là người có nhân thân chưa tốt.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Quá trình lập hồ sơ N có thái độ thành khẩn khai báo rõ ràng về hành vi của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính và nhân thân như trên, xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Trần Đức N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian nhất định là cần thiết, tạo điều kiện để N cai nghiện ma túy có kết quả, trở thành công dân có ích cho xã hội.

- Ý kiến của Đại diện Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội và ý kiến của Kiểm sát viên nhất trí đề nghị đưa Trẩn Đức N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian từ 12 tháng đến 18 tháng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật Xử lý vi phạm hành chính nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

- Căn cứ Điều 95, 96, khoản 2 Điều 105; điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Điều 5, 32 Luật phòng chống ma túy.

- Căn cứ Điều 3, khoản 2 Điều 20, Điều 23, 24, 30, 31, 32 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

- Căn cứ Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

- Căn cứ Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức N.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày Trần Đức N bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Địa chỉ chấp hành Quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái: Tổ 13, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

3. Trần Đức N có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Phòng LĐ-TBXH thị xã Nghĩa Lộ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng LĐ-TBXH thị xã Nghĩa Lộ phối hợp với Công an thị xã Nghĩa Lộ thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ