- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NTAL - DHS"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 31 tháng 3 năm 2022, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
| THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 46/2022/QĐCNTTLH | Hồng Bàng, ngày 18 tháng 4 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN THAM GIA HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN
Căn cứ các điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ các điều 55, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của chị NTAL và anh DHS.
Sau khi nghiên cứu:
- Đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 3 năm 2022 về việc yêu cầu ly hôn của chị NTAL.
- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 31 tháng 3 năm 2022 về thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây:
+ Chị NTAL, nơi cư trú: Số A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng;
+ Anh DHS, nơi cư trú: Số A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng.
- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 31 tháng 3 năm 2022 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 31 tháng 3 năm 2022, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị NTAL và anh DHS xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D (nay là phường E), quận C, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 14/2013 ngày 07 tháng 5 năm 2013. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hòa thuận, nhưng từ khoảng năm 2019 đến nay thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chính do tính cách và quan điểm sống trái ngược nhau, không có tiếng nói chung. Nay nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, không có khả năng đoàn tụ nên chị NTAL và anh DHS thuâ ̣n tinh ly hôn.
̀
- Về con chung: Chị NTAL và anh DHS có hai con chung là F, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2013 và G, sinh ngày 21 tháng 10 năm 2015. Ly hôn, chị NTAL và anh DHS thỏa thuận, anh DHS là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con F và G cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo qui định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị NTAL và anh DHS tự thoả thuận với nhau, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung: Chị NTAL và anh DHS tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các vấn đề khác: Không có yêu cầu giải quyết.
2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bên tham gia hòa giải; - VKSND quận Hồng Bàng; - THA Dân sự quận Hồng Bàng; - UBND P. E, Q. C, Hải Phòng (GCN kết hôn số 14/2013 ngày 07/5/2013); - Lưu TA. | THẨM PHÁN Trần Thị Hải Yến |