- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hầu Thi D + mễ Anh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hầu Thị D được ly hôn anh Mễ Anh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2021/HNGĐ-ST Ngày: 27- 12 -2021 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH – TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết và ông Trần Ngọc Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Kim Thao - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2021/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2021 về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27c/2021/QĐXX - ST ngày 17 tháng 11 năm 2021 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 40/TB-TA ngày 10 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hầu Thị D, sinh năm 1998.
Bị đơn: Anh Mễ Anh T, sinh năm 1993
Cùng cư trú: Thôn K, xã Tân H, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
(Anh T vắng mặt; Chị D có đơn xin xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hầu Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Mễ Anh T tự do tìm hiểu được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục và chung sống với nhau từ ngày 31-3-2015, đến ngày 22-12-2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T chơi bời, nợ nần, ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Chị và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T không thay đổi, dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ tháng 2/2021 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng với anh T không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mễ Anh T.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có hai con chung là Mễ Huy H, sinh ngày 03-9-2015 và Mễ Ánh D, sinh ngày 05-01-2021. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Mễ Anh T nhưng anh T không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 238, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hầu Thị D để xử cho chị Hầu Thị D được ly hôn với anh Mễ Anh T. Về nuôi con chung: Giao cháu Mễ Huy H, sinh ngày 03-9-2015 và Mễ Ánh D, sinh ngày 05-01-2021cho chị Hầu Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo pháp luật. Chị Hầu Thị D phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Mễ Anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái nên yêu cầu ly hôn của chị Hầu Thị D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình.
Chị Hầu Thị D và anh Mễ Anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến về quá trình thụ lý, giải quyết của Thẩm phán, thư ký, của Hội đồng xét xử, của người tham gia tố tụng tại phiên tòa và quan điểm giải quyết nội dung vụ án đúng theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hầu Thị D và anh Mễ Anh T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 22-12-2016, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị D cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Tchơi bời, nợ nần ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, chị và gia đình đã khuyên bảo nhưng anh T không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 2- 2021 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Mặc dù, anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt, thể hiện anh T không có thiện chí hòa giải. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Hầu Thị D và anh Mễ Anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị Hầu Thị D là có căn cứ. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình để xử cho chị Hầu Thị Dđược ly hôn anh Mễ Anh T.
Về nuôi con chung: Chị Hầu Thị Dvà anh Mễ Anh T có hai con chung là Mễ Huy H, sinh ngày 03-9-2015 và Mễ Ánh D, sinh ngày 05-01-2021. Chị D đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Anh T không có mặt tại Tòa án để giải quyết nên trong hồ sơ không có ý kiến của anh T về phần nuôi con. Hiện nay, các cháu do chị D đang trực tiếp nuôi dưỡng. Mặt khác, các cháu còn nhỏ, cần có sự quan tâm chăm sóc của mẹ . Vì vậy, để đảm bảo quyền, lợi ích và ổn định cuộc sống cho các cháu, cần giao cháu Mễ Huy H và Mễ Ánh D cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Hầu Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban hường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Hầu Thị D được ly hôn anh Mễ Anh T.
2.Về nuôi con chung: Giao cháu Mễ Huy H, sinh ngày 03-9-2015 và Mễ Ánh D, sinh ngày 05-01-2021cho chị Hầu Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3.Về án phí: Chị Hầu Thị D phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số: 0001520 ngày 13-10-2021 của chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (xác nhận chị D đã nộp đủ).
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện Yên Bình; - THADS huyện Yên Bình; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Thanh Nga |